Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2019

ĐÊM 30/7 (DL) VỪA RỒI, TỰ NHIÊN TÔI NẰM MƠ THẤY 1 TRONG 2 CHÚ LIỆT SĨ VỀ THẮM NHÀ ( Không rõ ở đâu ), TÔI TỈNH DẬY THÌ KHÔNG THỂ NÀO NHỚ ĐƯỢC DIỄN BIẾN SỰ HẠNH NGỘI NÀY . NHƯNG 2 HÔM SAU (1/8 DL) VÀO facebook THẤY XUẤT HIỆN 1 STT CŨ TRÊN DÒNG THỜI GIAN TRANG NHÀ, CÁCH NAY ĐÃ 7 NĂM, ĐƯỢC NHẮC LẠI. TÔI ĐÍNH CHÍNH VÀI CHI TIẾT RỒI CHO ĐĂNG LẠI LÀM KỶ NIỆM CHO BẢN THÂN, CON CHÁU/ VỪA XONG THÌ BÀ BẠN "SEN NÚI" (K3) TỪ TUYÊN QUANG GỌI ĐIỆN NHẮC : " Cụ Calathau có biết hôm nay 1/8 dương lịch là trùng với 1/7 Âm lịch không đấy ? Nhớ thắp hương cho 2 ông chú Liệt sĩ nhé !". TÔI GIẬT MÌNH VỨT MỌI THỨ Ở NHÀ, CHẠY LIỀN RA SIÊU THỊ ....THÚ THỰC, NẾU KHÔNG CÓ BÀ BẠN NHẮC THÌ TÔI CŨNG ...QUÊN CHI TIẾT NÀY ! LOÁNG 1 CÁI, MỌI VIỆC ĐÃ XONG XUÔI . TÔI ĐỨNG VÁI 2 CHÚ LIỆT SĨ và CHA MẸ , TẤT CẢ NGHĨ TRONG BỤNG, CHẲNG CẦN NÓI RA LỜI. NHỚ ÔNG BẠN HỮU HÙNG THƯỜNG NHẮC :" 1 cái vái xa bằng 3 cái vái gần "/ ĐỪNG TƯỞNG NÓI CHƠI. ĐÚNG VẬY ! TẤT CẢ CHỈ CÓ Ý NGHĨA KHI TÌNH CẢM XUẤT PHÁT TỪ CHÍNH TRÁI TIM MÌNH


 
2 ông chú ruột Liệt sĩ, chú Văn hy sinh ở Phú Thọ (1949) và chú Chức CB CA hy sinh ở TX Hòa Bình (1953) đến nay chưa tìm được hài cốt. Trong 1 lần "gọi hồn" ( Tại Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người -HN), 2 chú đã khuyên thời gian lâu quá rồi, phần xác đã tan vào cát bụi, không nên đi tìm nữa. Gia đình lập 2 "mộ bóng" trong Nghĩa trang Liệt sĩ ở quê ( Phú Lộc, Cầm Vũ , Cẩm Giàng , tỉnh Hải Dương) . Việc lập mộ bóng phải tuân theo các thủ tục nghiêm ngặt do "thầy cúng" hướng dẫn, điều khiển ... — cùng với LS Vũ văn Chức ( Chú Chức)


Trong điện có đầy đủ lễ vật . Vì các chú là "quan võ" nên phải có đội kỵ binh ( ngựa và binh lính ) hộ tống "về quê". Thầy cúng đọc 1 sớ dài xin phép các quan thổ thần thổ địa 2 nơi rồi gọi vong về nhập mộ. Bà thím xin âm dương bằng đồng xu sấp ngửa, đến lần thứ 3 các chú mới "cười" ( 2 đồng xu cùng ngửa) nghĩa là đồng ý . Em trai, thím và mẹ tôi ngồi phía sau hồ hởi vì các chú đã vui lòng chấp nhận. Trong khi đó tôi ra ngoài bấm máy chụp ảnh .

 Đây là những con ngựa thần sẽ đưa linh hồn các chú về nhận"Nhà mới" ở Nghĩa trang Liệt Sĩ

 Vì cả 2 ông chú tôi ở Thế giới bên kia đều làm quan to, nên việc "rước" các ngài về quê cũng phải chu đáo, long trong tương xứng với phẩm hàm ( Người áp vong nói vậy). Chúng tôi tuân lệnh thực hiện đầy đủ mọi yêu cầu , như phương tiện di chuyển (lính hầu và đội kỵ binh), khí giới hộ tống, lương thảo. tài chính, nhà cửa và không quên kèm theo cả ...2 nàng hầu ! Dương sao, âm vãy các thày nói vậy nên chúng tôi không dám thiếu sót ...


Khấn vái xong chúng tôi "hóa" ... Coi như gửi tất cả xuống âm phủ cho 2 chú sử dụng trong chuyến trở về quê gốc của mình.

Chú em tôi ( Sĩ quan Quân đội) đứng chờ cho đến khi mọi thứ đã "hóa' hết trong nỗi xót xa , ân hận vì hài cốt các chú đã không còn ...

Bây giờ 2 chú tôi đã có "nhà" để đi về . Đó là Nghĩa trang LS ở quê. Những quyền lợi của 2 chú được cấp mẹ chúng tôi gửi lại người thân và Ủy ban địa phương nhờ chăm sóc hương khói những ngày lễ trọng. Ngoài ra trong mỗi dịp về quê chúng tôi không quê ra mộ viếng 2 chú và tạt qua UBND Xã ủng hộ tiền vào quỹ chăm sóc chung trang phần mộ và chung cả Nghĩa trang Liệt sĩ của Thôn..( Trong ảnh : 2 anh em trong 1 lần từ HN cùng về viếng 2 chú Liệt sĩ ở quê) 

 Những người họ hàng còn lại ở quê chăm sóc phần mộ 2 chú LS...


Nguyện vọng của chú tôi ( thể hiện bằng lời qua cuộc gọi hồn / áp vong đã nói ở trên), là, mong muốn được ở lại với đồng đội. 2 "ngôi nhà" này chỉ là chốn thỉnh thoảng đi về. Và gia đình hãy nhớ thắp hương cầu nguyên, thăm hỏi chung cho tất cả các đồng đội của 2 chú đã cùng hy sinh trong trận chiến. 2 chú không muốn chỉ mình được hưởng sự quan tâm của người thân , vì còn rất nhiều LS hy sinh mà nay vẫn chưa liên lạc được với gia đình ....Thực hư không quan trọng. Chúng tôi đã làm đúng như sở nguyện của các LS. Trong lòng cũng thấy vơi đi nỗi ân hận bao năm trời...
( ĐĂNG LẠI TỪ facebook  TRANG NHÀ)

CHÔM TỪ MẠNG XÃ HỘI


Thứ Tư, 17 tháng 7, 2019

THAM KHẢO



Lý giải sóng ngầm tại bãi Tư Chính


Tác giả: Nguyễn Quang Dy
Ngày trước, khi thực dân Pháp đem chiến hạm đến cửa biển Thuận An để dọa nạt, triều đình chỉ muốn yên lặng để “giữ hòa khí”, trong khi người Việt chỉ ham uống rượu và ngâm thơ. Dân trí như vậy, làm sao không mất nước? Ngày nay, khi Trung Quốc đem chiến hạm đến bãi Tư Chính để bắt nạt, Việt Nam cũng muốn yên lặng để giữ hòa khí và đại cục, trong khi tranh cãi sôi nổi nên làm đường sắt cao tốc 200km/h hay 350km/h, nên cho “mở lon Viêt Nam” và “dùng lu” để chống lụt hay không. Dân trí như vậy, làm sao giữ được nước?
Trong khi hy vọng tranh chấp tại bãi Tư chính có thể dàn xếp được (trước mắt), Việt Nam cần chuẩn bị cho mọi tình huống (lâu dài). Trong chuyến thăm Mỹ sắp tới của Tổng Bí thư/Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (nếu sức khỏe cho phép), việc ký kết hay bàn bạc về một thỏa thuận hợp tác chiến lược (như với các đồng minh/đối tác khác) là thiết yếu để tạo ra một đòn bẩy chiến lược đủ sức răn đe đối với các tham vọng của Trung Quốc. Điều này phù hợp với “chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển” (NQD)
KD: Tác giả Nguyễn Quang Dy vừa gửi bài viết này. Chủ quyền biển đảo, an ninh Quốc gia ra sao, phụ thuộc vào tầm nhìn, sự khôn ngoan cùng quyết đóan của những người lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước hiện thời
Hậu thế tủi hổ hay không, đều phụ thuộc vào tầm, trí và tâm của các vị!
——————
Ảnh Autoxe

Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” (Si vis pacem, para bellum).
Những gì đang diễn ra tại bãi Tư Chính là dư chấn như sóng ngầm tiếp theo khủng hoảng lần trước (7/2017 và 3/2018).
Vì vậy, tuy không bất ngờ nhưng cũng đừng chủ quan. Theo báo SCMP (12/7/2019), Trung Quốc đã điều tầu HD-8 đến vùng biển gần bãi Tư Chính (Vanguard Bank) để thăm dò dầu khí (từ 3/7/2019). Tàu HD-8 được hộ tống bởi 2 tàu hải cảnh số 3901 (12.000 tấn) và số 37111 (2.200 tấn), được trang bị trực thăng và pháo.  
Cảnh Sát Biển Việt Nam đã điều 4 tàu CSB đến ngăn chặn các tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền. Ngoài 4 tàu CSB Việt Nam và 2 tàu hải cảnh Trung Quốc trực tiếp đối đầu (stand-off) suốt tuần qua tại vùng biển gần bãi Tư Chính (cách Vũng Tầu khoảng 440km), có hàng chục tàu khác của hai bên hoạt động ở ngoại vi. Sự kiện này xảy ra bất chấp cam kết (5/2019) của bộ trưởng Quốc phòng hai nước nhằm giải quyết tranh chấp qua đàm phán.
Theo báo chí chính thống (11/7/2019), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm và làm việc với Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển. Theo nguồn tin không chính thức, Thủ tướng đã nói chuyện qua điện thoại với các tàu CSB đang hoạt động tại vùng biển bãi Tư Chính. Tuy nội dung cụ thể không được thông báo, nhưng chắc Thủ tướng đã chỉ đạo CSB nâng cao cảnh giác để tránh bị động và bất ngờ trước các tình huống khó lường có thể xảy ra trên biển.   
Bối cảnh cũ
Cuộc đối đầu lần này tiếp nối cuộc khủng hoảng lần trước tại bãi Tư Chính (7/2017 & 3/2018) cũng như sự kiện dàn khoan HD-981 (5/2014). Trong cuộc khủng hoảng lần trước, Trung Quốc đã huy động hàng trăm tàu để hộ tống dàn khoan HD-760 tiến vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ đã đe dọa Việt Nam để buộc Repsol phải dừng khoan tại lô 136/03 (Cá Kiếm Nâu) và lô 07/03 (Cá Rồng Đỏ) nằm trên thềm lục địa của Việt Nam.  
Theo các chuyên gia, ExxonMobil (Mỹ) ký hợp đồng với PVN để khai thác khí tại lô 118 (Cá Voi Xanh) có thể làm Bắc Kinh tức giận. Nhưng chắc họ tức giận hơn khi PVN và Repsol (Tây Ban Nha) định khai thác dầu khí tại lô 136/03 và lô 07/03 tại khu vực bãi Tư Chính. Lô 136/03 và 07/03 kề bên (overlaps) một lô dầu khí lớn mà Trung Quốc đã bán quyền khai thác cho Crestone (từ năm 1992) nay thuộc quyền Brightoil (Trung Quốc).
Tháng 4/2017, kế hoạch khai thác dầu khí tại cụm Cá Rồng Đỏ được chính phủ Việt Nam chấp thuận, theo đó 12 giếng dầu sẽ lần lượt được đưa vào hoạt động (từ cuối 2019) có tổng công suất dự kiến khai thác mỗi ngày từ 25.000 đến 30.000 thùng dầu và 60 triệu m3 khí. Lô 07/03 (Cá Rồng đỏ) gần bờ nhất nên sẽ được ưu tiên triển khai trước. Nhưng việc hủy bỏ kế hoạch khai thác mỏ Cá Rồng đỏ làm các bên chịu thiệt hại tới 200 triệu USD.
Nguyên nhân chính là do Trung Quốc áp đặt đường “lưỡi bò”, đe dọa tấn công các đảo của Việt Nam tại Trường Sa, nếu không dừng dự án Cá Rồng Đỏ. Nay Trung Quốc lại điều tầu HD-8 và các tầu hải cảnh đến bãi Tư Chính có thể để phản ứng PVN hợp tác với Nhật (Sumitomo) định lắp đặt một dàn khoan lớn tại lô 39 & 40/01, như cách PVN và Gasprom (Nga) đã hợp tác khai thác tại lô 05/2 & 05/3 (Hải Thạch & Mộc Tinh) tại Nam Côn Sơn. 
Theo quan điểm của Việt Nam (và quốc tế), việc Trung Quốc không cho Việt Nam và các đối tác thăm dò và khai thác dầu khí tại lô 136/03 và 07/03 hay lô 118 (Cá Voi Xanh), là vô lý và ngang ngược. Tuy lô 118 nằm ngoài đường “Lưỡi bò”, Trung Quốc vẫn lập luận rằng khi ExxonMobil khai thác họ có thể hút cạn bể khí “dưới đường “Lưỡi bò”. Trong bối cảnh hiện nay, ưu tiên cao nhất là phải triển khai sớm dự án Cá Voi Xanh. 
Thời điểm mới
Theo Stratfor (12/7/2019) “Trung Quốc và Việt Nam đều không thông báo công khai về đối đầu lần này vì họ không muốn tình trạng căng thẳng đó leo thang vào lúc này”. Báo chí hai nước cũng không lên tiếng (trừ báo SCMP tại Hong Kong). Nhưng từ năm ngoái, ông Jack Ma, chủ của Alibaba đã trở thành cổ đông lớn của báo này, nên SCMP không còn độc lập như trước. Tuy nhiên, người ta biết rằng ngày nay mọi hoạt động trên biển không thể qua được mắt vệ tinh, và mọi diễn biến không thể dễ dàng bưng bít thông tin như trước.
Nhưng điều đáng lưu ý là thời điểm xảy ra sự kiện đối đầu tại Bãi Tư chính lại trùng hợp với chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Tiếp theo thỏa thuận “hưu chiến” Mỹ-Trung tại G-20 Osaka summit (29/6/2019), Mỹ đã quyết định đánh thuế 456% lên thép của Việt Nam có nguồn gốc từ Đài Loan hay Hàn Quốc. Bắc Kinh có thể nghĩ rằng lúc này Hà Nội đang ở thế bất lợi, nên họ cần gây sức ép mạnh hơn.  
Trong khi tiếp Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân tại Bắc Kinh (11/7/2019), Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói “hai nước nên bảo vệ hòa bình và ổn định trên biển bằng hành động cụ thể” (safeguard maritime peace and stability with concrete actions). Trước đó, Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Lật Chiến Thư cũng đã nói với Chủ tịch Quốc hội Việt Nam là “hai bên nên cộng tác để xây dựng bộ quy tắc ứng xử (COC) tại Biển Đông”.
Trước đó, khi G-20 Osaka summit đang họp thì Hải quân Trung Quốc tập trận bắn đạn thật tại Biển Đông (phía Bắc Trường Sa, từ 29/6 đến 3/7). Bộ Quốc phòng Mỹ cảnh báo Trung Quốc đã bắn thử tên lửa diệt hạm YJ-12 từ Trường Sa, đe dọa tự do hải hành tại Biển Đông. Gần đây, (6/2019) Hải quân Trung Quốc đã tăng cường hoạt động tại khu vực đảo Thị Tứ, và đâm chìm một tàu đánh cá Philippines tại bãi Cỏ Rong (mà không cứu người).
Có thể nói, trong khi Mỹ-Trung “vừa đánh vừa đàm”, Trung Quốc tăng cường gây sức ép và bắt nạt các nước khu vực (như Philippines và Việt Nam). Một là để thử phản ứng của Mỹ và đồng minh. Hai là để phân hóa ASEAN và giữ Việt Nam không ngả theo Mỹ, trước chuyến thăm Mỹ của lãnh đạo Việt Nam. Ba là để trấn an nội bộ trong nước, vì mỗi khi nội bộ bất ổn thì Bắc Kinh thường gây chuyện với bên ngoài để kích động tinh thần dân tộc.   
Khả năng chiến tranh
Theo Graham Allison (Belfer Center/Harvard), Mỹ và Trung Quốc dễ sa vào “bẫy Thucydides”, và chiến tranh tại Biển Đông khó tránh khỏi. Allison khảo sát 16 trường hợp tranh chấp trên thế giới, có 12 trường hợp dẫn đến chiến tranh. Với đa số áp đảo (3/4), Allison lập luận rằng đó là “quy luật tất yếu” (inevitable). Nhưng lập luận đó có lẽ không ổn.
Theo Alexander Vuving (APCSS/Hawaii), 12 trường hợp Allison cho là đã xảy ra chiến tranh có đặc điểm như “prisoner’s dilemma”, trong khi 4 trường hợp còn lại (không xảy ra chiến tranh) có đặc điểm như “chicken game”. Theo lý thuyết trò chơi, 2 loại đó có đặc điểm khác nhau, nên kết cục khác nhau, không thể “vơ đũa cả nắm”. Trong tranh chấp tại Biển Đông, khả năng xảy ra chiến tranh Mỹ-Trung “rất thấp” (unlikely) vì giống “chicken game”.
Tại Biển Đông, Trung Quốc triển khai chiến lược “tầm ăn dâu” để “thay đổi thực địa” (change facts on the ground) như một “chuyện đã rồi” (fait accomli). Trong khi người Trung Quốc coi Biển Đông như một “vùng xám” (grey area) để họ chơi cờ vây và vận dụng Binh pháp Tôn Tử (không đánh mà thắng), thì người Mỹ thường chơi cờ vua và vận dụng binh pháp Clausewitz.  Đó là hai cách tư duy theo hệ quy chiếu khác nhau, không nên lẫn lộn.
Tại Biển Đông, Trung Quốc thường dùng kế sách “bên miệng hố chiến tranh” (brinkmanship) để bắt chẹt đối phương phải nhân nhượng. Trong trò chơi “brinkmanship”, muốn hòa bình phải sẵn sàng chiến tranh. Winston Churchill đã nói “Một dân tộc tìm cách tránh chiến tranh bằng cái giá của sự nhục nhã thì cuối cùng sẽ nhận lấy cả sự nhục nhã và chiến tranh”. Cụ Hồ cũng từng nói “chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới”. Nay Trung Quốc là “thực dân mới” (lời ông Mahathir), nếu càng nhân nhượng, họ càng lấn tới.
Dưới thời ông Obama, Mỹ không dám đương đầu với Trung Quốc như thời ông Trump hiện nay. Trung Quốc đã nắm được chỗ yếu đó, nên đã lấn tới. Tuần tra FONOP tại Biển Đông theo cách “đi qua vô hại” (innocent passage) đã vô hình trung khuyến khích Trung Quốc càng hung hăng hơn. Trung Quốc đã tranh thủ bồi đắp và quân sự hóa các đảo nhân tạo mà họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa thành các căn cứ quân sự như hiện nay.    
Đối tác chiến lược
Nhưng tại sao Trung Quốc lại tập trung gây sức ép tại bãi Tư Chính mà không gây sức ép tại  mỏ khí Cá Voi Xanh (lô 118) của ExxonMobil. Đơn giản vì bãi Tư Chính là khâu yếu nhất, khó bảo vệ vì cách xa bờ (cách Vũng Tầu 440km). Tháng 7/2017 và 3/2018, Việt Nam và Repsol (Tây Ban Nha) đã phải ngừng khoan dầu khí và chịu thua Trung Quốc do đơn độc và yếu hơn (không có đồng minh bảo vệ). Trong khi đó, Cá Voi Xanh (lô 118) của ExxonMobil chỉ cách Đà Nẵng 88km, và đụng vào ExxonMobil là đụng vào Hải Quân Mỹ.
Nếu Trung Quôc bắt nạt được Việt Nam và Tây Ban Nha (tại lô 136/03 và 07/03), thì họ có thể gây sức ép với Ấn Độ (tại lô 128) và Mỹ (tại lô 118) để nhổ ba cái gai nhọn cắm vào “lưỡi bò” của họ. Nếu nhổ được ba cái gai đó, họ sẽ kiểm soát được Trường Sa và làm chủ Biển Đông. Cũng như Scarborough, bãi Tư Chính là “làn ranh đỏ” (red line), có ý nghĩa địa chiến lược. Nếu Việt Nam (và Mỹ) để mất bãi Tư Chính vào tay Trung Quốc như Philippines (và Mỹ) đã để mất Scarborough (năm 2012) thì đó sẽ là một sai lầm chiến lược lớn.
Các sự kiện diễn ra liên quan đến lô 136/03 (Cá Kiếm nâu) tháng 7/2017, lô 118 (Cá Voi xanh) tháng 11/2017, và lô 07/03 (Cá Rồng đỏ) tháng 3/2018, đã làm bộc lộ bản chất và thái độ ngang ngược của Trung Quốc. Họ dựa trên sự áp đặt đường lưỡi bò bất hợp pháp tại biển Đông để ngăn cản tất cả các đối tác quốc tế nào muốn hợp tác dầu khí với Việt Nam. Điều đó nhất quán với “Tam chủng Chiến pháp” (Three War Doctrine) của Trung Quốc.
Nhưng liệu Mỹ dưới thời ông Trump có bảo vệ Việt Nam không, khi hai bên chưa phải là đồng minh và đối tác chiến lược? Theo chuyên gia Bonnie Glaser (CSIS) “có rất ít khả năng Mỹ sẽ can thiệp quân sự để bảo vệ Việt Nam chống lại Trung Quốc, vì Việt Nam không phải là đồng minh của Mỹ”. (What would the U.S. have done differently? I find it unlikely that the U.S. would militarily defend Vietnam against China. Vietnam isn’t an ally).
Nếu Mỹ không can thiệp vào tranh chấp tại Biển Đông và không sẵn sàng bảo vệ đồng minh hay đối tác (như Philippines hay Việt Nam), thì đúng ý Trung Quốc, vì họ chỉ muốn loại Mỹ ra khỏi Biển Đông. Nếu ASEAN cũng không can thiệp và khoanh tay đứng nhìn khi Việt Nam bị bắt nạt và đe dọa thì cũng đúng ý Trung quốc. Họ chỉ muốn phân hóa làm suy yếu ASEAN bằng cách tách bó đũa ra để bẻ từng chiếc, nên không đàm phán đa phương.  
Alexander Vuving đã nhận xét rằng quan hệ Trung-Việt nay tách xa hơn “nhưng không quá xa”, còn quan hệ Mỹ-Việt nay gần hơn “nhưng không quá gần”. Tuy nhiên, sau khi tổng thống Obama đến thăm Việt Nam (5/2016), bỏ cấm vận vũ khí, và thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm Mỹ (6/2017), gặp Tổng thống Donald Trump, thì quan hệ Mỹ-Việt hầu như đã trở thành đối tác chiến lược “trên thực tế” (de facto). Thế cân bằng tĩnh đang bị phá vỡ, biến tam giác cân “Mỹ-Trung-Việt” trở thành tam giác “bất cân xứng”, đầy biến số.
Làm sao giữ nước
Vấn đề cốt lõi (bottom line) là Trung Quốc muốn áp đặt đường “lưỡi bò” để thâu tóm Biển Đông như cái ao của họ. Trung Quốc không muốn Việt Nam (hay Philippines) hợp tác khai thác dầu khí tại Biển Đông với bất kỳ đối tác nào khác (như Tây Ban Nha, Mỹ, Ấn Độ, Nga, Nhật) mà không phải Trung Quốc. Họ chỉ muốn Việt Nam cùng Trung Quốc khai thác chung theo cách của họ mà ông Mahathir đã chỉ trích là “thực dân kiểu mới”.
Trong bối cảnh trật tự thế giới ngày càng mất trật tự (disorder) như hiện nay, nước nào cũng cần có đồng minh chiến lược để không bị cô độc. Những nước nhỏ yếu hơn là hàng xóm của một siêu cường (như Trung Quốc) càng cần có đồng minh chiến lược để làm đối trọng khi cần thiết (hedging strategy). Nhưng đừng nên ảo tưởng trông chờ vào cường quốc khác bảo vệ mình, nếu không biết phát huy nội lực để tự cường và độc lập. Muốn vậy, phải nâng cao dân trí, đổi mới thể chế và điều chỉnh hệ quy chiếu để không bị lạc hậu và tụt hậu.
Dư luận cho rằng trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư để nâng năng lực của Cảnh sát Biển (nói riêng) và Hải quân (nói chung). Điều đó tuy đúng nhưng có lẽ chưa đủ, và có thể là “quá ít và quá muộn” (too little too late). Tuy phải làm mọi cách để nâng cao năng lực CSB, nhưng năng lực chiến đấu không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh cứng (như khí tài và hỏa lực) mà còn phụ thuộc vào sức mạnh mềm (như dân trí và dân khí).
Ngày trước, khi thực dân Pháp đem chiến hạm đến cửa biển Thuận An để dọa nạt, triều đình chỉ muốn yên lặng để “giữ hòa khí”, trong khi người Việt chỉ ham uống rượu và ngâm thơ. Dân trí như vậy, làm sao không mất nước? Ngày nay, khi Trung Quốc đem chiến hạm đến bãi Tư Chính để bắt nạt, Việt Nam cũng muốn yên lặng để giữ hòa khí và đại cục, trong khi tranh cãi sôi nổi nên làm đường sắt cao tốc 200km/h hay 350km/h, nên cho “mở lon Viêt Nam” và “dùng lu” để chống lụt hay không. Dân trí như vậy, làm sao giữ được nước?
Trong khi hy vọng tranh chấp tại bãi Tư chính có thể dàn xếp được (trước mắt), Việt Nam cần chuẩn bị cho mọi tình huống (lâu dài). Trong chuyến thăm Mỹ sắp tới của Tổng Bí thư/Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (nếu sức khỏe cho phép), việc ký kết hay bàn bạc về một thỏa thuận hợp tác chiến lược (như với các đồng minh/đối tác khác) là thiết yếu để tạo ra một đòn bẩy chiến lược đủ sức răn đe đối với các tham vọng của Trung Quốc. Điều này phù hợp với “chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển” (theo Nghị quyết 36-NQ/TW). 
Tham khảo

“China and Vietnam in standoff over Chinese survey ship mission to disputed reef in South China Sea”, Liu Zhen, South China Morning Post, July 12, 2019

“China, Vietnam: Reports Suggest Maritime Standoff Near Spratly Islands”, Stratfor, situation report, July 12, 2019
“Tensions Bubble to the Surface in China-Vietnam Spat”, Murray Hiebert & Gregory Poling, CSIS AMTI update, June 28, 2017
“Khủng hoảng Biển Đông lần thứ hai”, Nguyễn Quang Dy, Viet-studies, July 31, 2017
NQD. 14/7/2019 

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

TÔI TƯ THẮNG TÔI

TÔI ĐÃ THẮNG CHÍNH TÔI !







Tôi vốn là người có máu “xê dịch” như chàng Nguyễn trong “Thiếu quê hương” của Nguyễn Tuân, tuy nhiên tuổi càng cao máu mê xê dịch càng giảm . 4 năm trước đi xuyên Việt bằng xe nhà với vợ chồng Lý-Liên và cụ Tú Riềng theo phong cách “vui đâu chầu đấy ” mệt thì nghỉ giữa đường, đói thì dừng xe kéo nhau vào bìa rừng mở cơm nắm, muối vừng kèm bia bọt  ra xơi ! Có lẽ thử thách nhất là trèo lên lung chừng núi rồi chui vào hang Sơn Đoòng .Còn bình thường thì tính cung đường chọn các điểm có “ chiến hữu” thân quen với nữ Trưởng đoàn làm trạm dừng chân lấy sức đi tiếp ! Lâu hơn nữa, năm 2003 chuyến “về lại trường xưa” (Lư Sơn -Quế Lâm ) cùng với Tỷ phú đỏ Lê Minh Ngọc-người cao niên nhất trong đoàn, hai chúng tôi đã leo bằng chân 3000 bậc đá từ đáy núi lên đỉnh núi của 1 danh thắng có tên  “Tam điệp tuyền”trên đỉnh Lư Sơn tuyết phủ, trong khi hầu hết các đoàn viên trong đoàn phải kêu trợ giúp bằng …kiệu !  
Lần này, tôi là thành viên của hành trình CARAVAN  do Tập đoàn C.T Group tổ chức định kỳ hàng năm vào dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5 . Những năm trước đoàn đông  vài trăm người, nhiều nhất 350 thành viên ( năm 2012) hành quân di chuyển trên hơn 10 xe hơi các loại theo lộ trình : Saigon – Đà Lạt- Nha Trang- Đà Nẵng -Huế rồi trở về bằng đường hàng không !
Năm nay hành trình Caravan C,T 2019 có tên  “ LUYỆN CHÍ THÉP-VƯỢT THÁC HÓA RỒNG”. 110 thành viên được gọi là các chiến binh , chia làm 5 đội (Team) với tên riêng, mầu áo riêng như Chiến hạm Thần phong (Vàng), Rồng Lửa (Tím), Trái tim Thép ( Xanh lá),  Vòi Rồng ( Xanh lam), Chiến Binh Thép ( Đỏ)  ….nhưng đều chung  mục tiêu qua chuyến hành trình sẽ rèn luyện để trở thành  “CHIẾN BINH THÉP” có tính KỶ LUẬT WEST POINT và TỐC ĐỘ F1 !
Các cấp lảnh đạo  Tập đoàn được phân công phụ trách 2 Ban , BAN TỔ CHỨC và BAN GIÁM KHẢO .
Có hàng chục các cuộc tỉ thí, đua tài, các trò chơi trí tuệ và thể lực :  Từ leo núi tìm và giải mật mã đến xuống biển xây lâu đài cát. Từ  bóng đá bóng chuyền, đá cầu, kéo co, vượt chướng ngại vật đến thi nấu ăn, thi tập thể vẽ tranh và thi người đẹp Tập đoàn   v.v…tất cả đều mang tính chuyên nghiệp cao và có chấm điểm .  Đặc biệt  đêm Gala  tuyệt vời với 1 chương trình bảo đảm tính giải trí tưng bừng mà vẫn mang ý nghĩa cao đẹp truyền cảm hứng cho người trẻ yêu quê hương đất nước, yêu công ty mình đang phục vụ  và mong muốn được góp phần vào sự phồn vinh chung, trong đó có hạnh phúc gia đình mình !
Trong hành trình 5 ngày 4 đêm này không chỉ có các hoạt động ngoài trời ! Có tới 3 cuộc hội thảo trong hội trường , mỗi cuộc trung bình 180 phút – không giải lao ! Tôi có ý tò mò xem họ- Tập đoàn chủ yếu kinh đoanh Địa ốc-Bất động sản, họ huấn luyện cho “người lao đông” của họ điều gì ?. Chắc chắn là dậy cho họ cách kinh doanh, cách cạnh tranh đối đầu với đối thủ - Thương trường là chiến trường mà ! Không ! Tôi đã nhầm và điều này mới cuốn hút được tôi dự hết cả 3 cuộc Hội thảo với 1 tâm trang như vừa được …khai sáng ! Vâng, buổi đầu là chủ đề : “Quặng- Ngọc trong đá  và luyện thành ngọc“, buổi thứ 2 “ Ai là người lãnh đạo tuyệt vời”, và thứ 3 mới là “ Tìm ra đối thủ và đối đầu với đối thủ trên thương trường”. Hóa ra trước tiên họ dậynhau về kỹ năng sống, về cách làm 1 con NGƯỜI TỬ TẾ. Buổi đầu tiên, bà Phó TGĐ  trẻ , kết thúc bài giảng của mình bằng 1 chia sẻ qua bài hát của Trịnh Công Sơn. Có câu  : “Sống  trong đời sống , cần có 1 tấm lòng. Để làm gì em biết không ? Để gió cuốn đi ….” Buổi hội thảo thứ 3 ( chủ đề nhậy cảm, mời người ngoài ra khỏi hội trường). Ông Chủ tịch kiêm TGĐ tập đoàn ( Trên 50 một chút ), hỏi : Ai hiện nay là đối thủ số 1 của chúng ta, và chúng ta phải làm gì để  đuổi kịp và vượt họ với tốc độ F1 ? Nhiều tiếng xôn xao nhưng chỉ có 1 học viên nói trúng- Đó là Tập đoàn BĐS X mạnh nhất VN hiện nay (thậm chí đã  đứng đầu ĐNA!). Rôi sau vài phân tích, ông  CT Tập đoàn khẳng định mạnh mẽ: Rất đúng ! Ta chọn họ là đối thủ số 1, vì họ chính là …THẦY ta !     
Những bài học kiểu này, tôi làm việc trong CQ Nhà nước mấy chục năm, rất ít thấy . Chỉ nhớ loáng thoáng những nghị quyết này nọ với các con số chỉ tiêu vừa cụ thể lại mơ hồ, miễn sao cuối năm chạy cho được tấm bằng khen lồng khung kinh cất trong ngăn kéo thủ trưởng, thêm cái phong bì mỏng tang (bù thêm tiền CQ) làm bữa liên hoan gọi là chào mừng thành tích nhân ngày gì đó !
Cụ Tù Riềng vài lần ái ngại hỏi tôi: Già cả rồi đi như thế này có mệt không? Có chịu nổi không ?
Thưa , Trong suốt hành trình,  tất cả các thành viên trong Đoàn Caravan đều được hưởng tiêu chuẩn như nhau ( tổng chi 12 triệu/người). Ăn nghỉ tại các Resort , Khách sạn sang trọng (5 sao) như Dalat Edensee, Ibis Stykes Hotel, Sunny Beach Resort, Leman Tree Resort Nha Trang …và dọc đường  thưởng thức các  đặc sản vùng miền đi qua  Mình được tín nhiệm cử làm Trưởng BGK ( cùng 2 bà phó TGĐ thành viên và 1 chuyên viên giữ chân Thư ký giúp việc) . May được các bà Sếp thương  Trưởng Ban….già, nên hễ việc gì khó, vất vả là lại … “Thôi bác cứ để việc ấy cho chúng em !”. Nói tóm lại là “ Mệt thì có mệt nhưng còn ham vui !”.
Có chút an ủi : Thế là cũng đã 1 lần nữa mình thắng mình !  
------------------
Caravan CT 2019 từ 8-12/5/)
Viết xong 15/5/2019


Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019

TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG BỊ ĐỒNG HÓA SAU 1.000 NĂM BẮC THUỘC ?



500_tranh-tet
Tác giả: Nguyễn Hải Hoành
Tiếng ta còn thì nước ta còn!
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.
Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.
Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.
Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!
Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.
Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.
Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).
Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.
Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”
Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.
Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:
– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;
– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;
– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;
– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…
Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.
Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.
Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!
Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2] Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.
Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.
Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?
Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.
Đọc chữ Hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta
Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.
Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ  (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.
Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nhovới ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho  là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]
Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.
Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.
Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.
Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.
Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).
Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.
Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.
Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.
Thí dụ chữ  được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩycủa người Hán. Chữ , tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắcThủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của .
Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5] Như chữ , âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ , Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ;  giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như  và , âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng  và , âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như  có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ;  có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).
Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]
Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.
Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.
Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.
Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!
Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.
Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.
Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.
Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]
Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.
Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]
Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.
Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho  chữ Hán-Việt.
Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.
Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.
Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!
Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.
Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.
Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?
Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.
***
Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.
Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.
Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!
Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!
Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.
—————————
[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).
[2]宋代中越文学交流述论 có câu 黎嵩 “越鑑通考總論” viết : 趙佗 “建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .
[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ  Hán tự  漢字 xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一”:“十八年,封金源郡王.始习本朝语言小字, 及汉字经书,以进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.
[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.
[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ  一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).
[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.
[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.
[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).
[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.
[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.
---------------------------
Nguồn "Nghiên cứu quốc tế "