Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

BAN LIÊN LẠC K5 THÔNG BÁO

 CHƯƠNG TRÌNH 
HỌP LỚP THƯỜNG NIÊN
và RA MẮT TẬP HỒI KÝ 
"NGƯỢC DÒNG KÝ ỨC"


Ngày 12/5/2017 cuốn Hồi ký mà chúng ta đã mong đợi đã hoàn thành công đoạn cuối cùng về in ấn và đóng bìa .
Xin được nói lại, đây là tập Hồi Ký của Khối lớp 5 (K5) Niên học 1953-1954 , Trường Thiếu nhi Việt Nam- Lư Sơn-Quế Lâm-KHXNN (1953-1958). Hồi ký có tên - và cũng là chủ đề chính, là NGƯỢC DÒNG KÝ ỨC được chọn tử Entrys của các Bloggers  "Làng lusonquelam" trong suốt 9 năm , kể từ năm 2007 là năm chúng ta xây dựng "Làng"đến cuối năm 2016. Ngoài ra phong trào viết  đóng góp cho ấn phẩm NGƯỢC DÒNG KÝ ỨC cũng được nhiều bạn đông môn nhiệt tình hưởng ứng.
Kết quả tập hồi ký này
  • Có tên 70 tác giả  (và nhiều bạn viết Comment) 
  • Sách in khổ 16 x 24
  • Bìa cứng
  • Dầy 568 trang. 
  • Trong đó có 110 trang ảnh tư liệu quý
  • Số lương in : 400 cuốn
Về kinh phí :
                                 Giá thành 1 cuốn ....................................166.000đ
                                 Thành tiền   166.000đ x 400 cuốn =         66.400.000đ
                                 Công vận chuyển ra Hà Nội .......................3.000đ
                                                                                       ___________________
                                 Tổng chi phí .....................................        69.4000.000đ

Được sự ủng hộ nhiệt tình của các bạn ( Tác giả và kể cả 1 số không phải tác giả có bài in sách), đến nay chúng ta đã thanh toán với Nhà in đợt đầu là 50.000.000đ ( Năm mươi triệu )
Số tiền còn phải trả Nhà in là ...............................19.400.000đ ( Mười chín triệu, bốn trăm ngàn đồng)
BLL sẽ tiếp tục động viên các bạn ủng hộ và hy vọng sẽ thu đủ trong dịp Họp mặt vào ngày 26/5 tới .

Sau khi hoàn tất BLL sẽ công bố tên và số tiền của từng cá nhân đã tham gia đóng góp cho quỹ Hội ra sách .

Ngày 17/5  300 cuốn đã được chuyển thẳng ra Hà Nội và bạn Xuân Hoài đã nhận đủ.
Trong Sài Gòn để lại 100 cuốn (Bạn Công Kỳ quản lý)

Phương thức phân phối biếu, tặng sách sẽ do Ban Liên Lạc quyết định
Việc này sẽ được tiến hành ngay trong buổi Họp mặt . Rất mong các Thầy, cô, các bạn K5 Lư Sơn-Quế Lân- KHXNN . các khách mời và các tác giả có mặt để chia vui .
(Hình minh hoa vui, không phải thực tế)
Địa điểm : Nhà hàng Quán Gió . 
Công viên Thống Nhất (Hà Nội)
Vào hồi 9g30 ngày 26/5/2017 (Thứ 6)
Chương trình : Họp Lớp thường niên 
và ra mắt Hòi ký NGƯỢC DÒNG KÝ ỨC .

                                                          BLL thông báo


Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

TÀI VÀ ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO-NHÂN VỤ KỶ LUẬT ÔNG THĂNG

Tác giả: Nguyễn Văn Thọ (theo FB Thai Phu Pham)

Cái Đức của kẻ chí sĩ, quan đại thần xưa nay vốn nằm ở sự ứng xử với việc quốc gia, đại sự, lớn hơn là sự ứng xử vặt vãnh ở đời thường. Nằm ở Khí phách, ở thái độ, ở trách nhiệm với quốc gia, quốc thể với đời sống triệu triệu sinh linh (Nguyễn Văn Thọ)
 ———————- 

Ảnh nhặt trên mạng, nghi là bị cắt ghép !

Tôi đọc nhiều bài báo của Đại tá nhà báo, nhà văn Như Phong, cũng đọc nhiều bài viết tản mạn của vài nhà báo, nhà văn viết về anh Đinh La Thăng trên FB.
Tôi cũng từng hỏi trực tiếp 1 người bạn già từng là lãnh đạo trực tiếp 1 thời của anh Đinh La Thăng, thì đều thấy các anh chị như Như Phong viết về anh Thăng quả không sai. Như bạn già tôi nhận xét. ĐLT là 1 người linh hoạt, năng nổ. Một người đốc chiến khá.
Lại nhìn nhiều việc của anh Thăng đã làm ở thành phố HCM khi anh là Bí thư quả là hay, là đúng là cần cho 1 lãnh đạo mới xông vào 1 thành phố đang phát triển bừa bộn.

Lại việc một nhà thơ kể chuyện anh về thăm tận quê, biếu gửi 1 nhà thơ khó khăn 2 triệu, cũng là 1 việc tử tế ân tình.
Thi sĩ Trần Đăng Khoa kể việc Thăng đi nước ngoài khóc khi nghe 1 tin buồn trong nước nhà, thì thực anh là người tử tế…
Lại nghe nhiều bè bạn Thăng kể về Thăng thì quả về Bản Chất con người Đinh La Thăng là con người năng động .

Cái tip ấy chơi với “hắn” cũng thú vị, đấy là xét về con người đơn thuần. Thời đại này không nên lí luận: Ông ta giầu lắm, cho 2 triệu 1 nhà thơ, bằng hạt bụi….Tôi cam đoan rằng, nếu ko có tấm lòng, thì kẻ giầu thường keo bẩn mới giầu, không có tấm lòng biết chia sẻ nhất là với tụi nhà văn nhà thơ ẩm ương thì 1 xu Thăng cũng chả cho. Không có tấm lòng thì trước thế lực Trung Hoa, Thăng dâu dám mắng nhà thầu Trung Hoa công khai. Không có tấm lòng thì Thăng đâu thấy buồn, trăn trở khi ngồi ở ghế tốt trên phi cơ, còn thầy của Thăng ngồi ờ ghế thấp…Thậm chí tôi đánh giá ở mức nào đó anh ĐLT hành xử ít nhiều có văn hóa, có cái tình. Cái tình thời nay quan trọng lắm.

Nhưng xét ĐLThăng đâu chỉ xét ở mức con người bình thường mà ngợi ca mà bao biện. Ông ĐLT- với vị trí ủy viên BCT – thì không nên chỉ nhìn về phía Con Người , bởi vì anh chính là đại thần thời nay. Mà Đức của đại thần khác với Đức con người bình thường. Đòi hỏi ở Đức tầm cao hơn, khi ảnh hưởng sâu và rộng với đời sống đâu chỉ vài người quanh anh ta. Ở cương vị quyền hạn cao, trách nhiệm lớn, thì cái Đức không còn giới hạn bởi nhiều điều thuộc về quan hệ cá nhân người quanh quẩn với vài hành vi nữa nặng tính cá nhân biểu hiện “tính người”.
Cái Đức của kẻ chí sĩ, quan đại thần xưa nay vốn nằm ở sự ứng xử với việc quốc gia, đại sự, với điều lớn hơn là sự ứng sử vặt vãnh ở đời thường. Nằm ở Khí phách, ở thái độ, ở trách nhiệm với quốc gia, quốc thể với đời sống triệu triệu sinh linh.
Đấy xem sử xưa, Chu Văn An dâng sớ tâu vua xin thất trảm bẩy tên quan tham rồi từ quan thì đấy là Đức lớn. Dân thờ.
Đấy xem sử nay, gần đây, Nguyễn Khắc Viện dám viết thư cho Tố Hữu, can gián, đề nghị thi sĩ giữ lấy danh thi nhân mà rút lui khỏi Bộ Chính Trị để giữ lại lòng yêu tố hữu trong thơ của nhân dân, để khỏi bao nhiêu quyết định sai trái khi TH nắm quyền lực tiếp tục gây ra lắm sai lầm về quốc sách trong thời cuối của ông TH. NKV là nhà văn hóa thôi, song có đức lớn, thấy trước cái nạn đất nước khi Đảng chưa lường hết cái mặt xấu ghê gớm của chủ nghĩa tư bản hoang dã, sẽ xuất hiện ở VN sau đổi mới. Để tỏ thái độ ông nhịn ăn để chết kể cả khi Đỗ Mười tới thăm. Đấy là cái chết ta phải nghiêng mình kính trọng người có Đức Lớn.

Đức lớn là điều cần của con người ta khi nắm giữ các vị trí cao, trách nhiệm lớn bởi vì chỉ có nó thì Con Người ấy mới thực sự có Đức khi làm lợi cho muôn dân cho nước; thời nay là cho quốc gia, cho nhân dân và, cả cho sự vững mạnh của Đảng, giữ lại niềm tin từ khi lập nước mà Đảng đã từng có bao đảng viên, con người không tiếc thân mình, hy sinh lớn lao cho dân cho nước.

Cho nên ở vị trí Đại Thần xét Đinh La Thăng thì tất cả những bài báo của Như Phong hay của bao văn sĩ, nhà báo cũng chỉ là cái điều nhỏ về tư chất con người ông Thăng, mà chưa tỏ ra rõ ra ở ông ĐLT có cái Đức lớn khi lịch sử của ngành dầu khí của Bộ giao thông dầy đặc sự thất thoát hàng ngàn ngàn tỉ của nhân dân.

Ở đây nếu xét về Tài thì Để như thế ĐLT chỉ tài mọn, nên các án quyết to giọng khi làm bí thư thành phố hay làm bộ trưởng cũng chỉ vặt vãnh với cương vị lớn. Việc điều khiển 2 cơ quan cực lớn này để thất thoát như thế thì cái tài lớn ở đâu? Đức lớn có không?
Còn nếu có ai nói ĐLT cũng làm điều người khác cao hơn, cụ thể là do chỉ đạo của thủ tướng thì ông ĐLT quả là không có đức lớn. Nói vậy vì thủ tướng thời nay có thể dốt, quan liêu mà quyết, bè bối mà quyết thì người như ĐLT từng thông thạo mọi đường, từ kế toán trưởng của ngành Điện HB, đến bao vị trí đã thực hành sao không biết can gián việc của trên mà thi hành. Tôi đánh giá hai việc:
1 là bản thân sự thất thoát ấy có trách nhiệm thuộc về tài năng trách nhiệm của ĐLT, hai là ĐLT thiếu cái Đức lớn mà quên cái vị trí ca nhân mình mà học các tiền nhân làm cái điều tôi mong muốn ở 1 đại thần biết phanh những vấn đề của cấp trên khi thấy nguy cơ có hại cho dân cho nước và cho Đảng.

Khi ông ĐLT ở cương vị bí thư TP HCM, tôi từng ủng hộ ông khi ông bám sát các địa bàn. Note viết ra có bạn FB nhắn tin kể ngàn tội cũ của ông. Với tinh thần của 1 người luôn quan niệm xét người ở từng việc, tôi bảo lưu sự ủng hộ ông Thăng khi đó, cũng là ủng hộ chủ trương của BCT thay đổi cách quản lí 2 thành phố lớn với các nhân tố lớn, chứ chưa khi nào tôi đánh giá ông ĐLT ở Đức lớn qua vài chục bài ca ngợi ĐLT vặt vãnh như gần đây.

Cho nên tôi ủng hộ quyết định hội nghi trung ương gần đây khi kỉ luật ĐLT và tôi lại cho là với tổn thất lớn mà trong trách nhiệm của ĐLT gây ra cho đất nước thì kỉ luật ấy vẫn là sự nương nhẹ. Một đứa trẻ ăn cắp 1 cái bánh mỳ bị xử, một cán bộ cấp thấp tham ô vớ vẩn, nhận quà chỉ 1 cái đài bị tù cả bao năm cách tất cả chức vụ như Trần Mai Hạnh còn ĐLT tổn thất cả tỉ đô làm cho hàng triệu kẻ đói nghèo, không có đức lớn, tài cao sao lại chỉ cảnh cáo?

Ngày nay nhìn vào các sự việc, con người cụ thể, đánh giá các đại thần tôi thiết nghĩ đâu chỉ nhìn vào quan hệ bè bạn hay ứng xử không phải cái tài cái Đức đảng chính phủ nhân dân trao cho mà vị trí của anh ta đòi hỏi phải có mà hoàn thành nhiệm vụ.


Nay anh ĐLT đã rời vị trí, tôi rất mong ai đó chơi thân anh ĐL Thăng cho anh đọc note này, để tôi muốn nói rằng, dù thế nào tip người bình thường như anh Thăng là tip người thú vị. Tip ấy nếu tôi có cơ duyên gặp, cũng dễ chơi kết bạn, song ở cái cần và đủ của 1 đại thần, anh Thăng nên vui sống và cần tự biết rằng, cái sự xảy ra hôm nay là sự may mắn cho anh và cả dân tộc cả cho Đảng nếu như anh còn chút ít thật sự tấm lòng với Đảng, chứ không phải với cá nhân nào đang giữ những cương vị nào trong Đảng.
---------------------------------
Nguồn: Từ blog Kim Dung

MONG KHÔNG CÒN PHẢI VIẾT VỀ "ĐINH LA THĂNG"NÀO NỮA !

Tác giả: Trương Huy San (theo FB Sơn Vũ)

.Ủy viên bộ chính trị hay ủy viên trung ương đều là những “vai vế trong đảng”, đảng có thể sử dụng quy trình chính trị nội bộ của mình để xử. Nhưng, hành vi của họ còn làm tổn hại tới lợi ích quốc gia và tiền bạc của dân, nếu dân không có thực quyền, nếu không có nhà nước pháp quyền. Nếu các cơ quan tố tụng luôn phải chờ đợi quy trình chính trị này để túm cổ bọn sâu mọt thì những thành tích chống tham nhũng sẽ rất tạm thời và đất nước rất dễ rơi trở lại cái vòng luẩn quẩn.



Khác với những người đang “thương vay, khóc mướn”, Đinh La Thăng tính toán chiến lược hơn. Anh ấy biết rõ “cơ quan chức năng” có lượng tài liệu gấp nhiều lần “mấy mẩu con con” mà ủy ban Kiểm tra công bố.

Việc “chui” vào Bộ chính trị một năm, một trăm ngày trước đây; những giọt nước mắt trình bày hoàn cảnh gia đình trong phiên họp “luận tội” của Trung ương hôm Chủ nhật và lời xin lỗi gửi tới cả cá nhân Tổng bí thư sáng nay đều nằm trong những nỗ lực tìm nơi trú ẩn.

Đây chỉ mới là quy trình chính trị. Bỏ qua lòng kiêu hãnh mà Đình La Thăng vẫn xây dựng trước “đám đông”, việc anh làm bây giờ là làm sao tránh được quy trình tố tụng.

Tuần trước, khi còn ở trong Bộ chính trị, muốn “chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra”, những người xử lý anh cần phải có đủ phiếu ở Trung ương. Giờ đây, chỉ cần Ban bí thư, Bộ chính trị là đã có thể làm việc đó.

Cũng hôm Chủ nhật, Tướng Vịnh đã tiên phong khi bắt đầu phiên họp của Trung ương, nhân danh đồng chí và bạn thân của Đinh La Thăng, ủng hộ Trung ương kỷ luật và đưa Thăng ra khỏi Bộ chính trị. Tướng ra trận phải biết bỏ những thành đã mất. Hành động của Tướng Vịnh như ông anh bạt tai thằng em trước “ông bà bô” nghiêm khắc, những mong thằng em thoát được những đòn roi xé da, rách thịt hơn.

Đinh La Thăng giờ đây có lẽ rồi cũng sẽ rời khỏi “pháo đài uy tín trong dân”.

Từ năm 2008, một số thành viên Chính phủ đã nhiều lần chính thức can Nguyễn Tấn Dũng không mở tung cửa cho nhà thầu Trung Quốc. Năm 2008, 2009, bộ trưởng Võ Hồng Phúc còn làm văn bản khẩn thiết đề nghị Chính phủ có biện pháp ngăn chặn làn sóng nhà thầu Trung Quốc chụp giựt, yếu kém. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chưa một lần trả lời và sau hai nhiệm kỳ của ông, Việt Nam thành bãi rác cho công nghệ “Tàu” lỗi thời. Có không ít dự án của Đinh La Thăng, khi vừa hoàn thành thì “công nghệ” cũng vừa hết đát. Vậy mà chỉ cần một câu nói chống “tình hữu nghị viển vông”; chỉ cần một cái chỉ tay “đuổi nhà thầu Trung Quốc(bất thành)” cả Nguyễn Tấn Dũng và Đinh La Thăng đều trở thành “phe chống Tàu, thân Mỹ”.

Các nhà lãnh đạo Chế độ nên đặt câu hỏi, tại sao dân chúng lại từng lên tiếng ủng hộ những kẻ mà họ biết rõ là “sâu chúa”. Dân chúng đã chán ngắt một hệ thống chính trị mà trong đó họ rất ít khi nhìn thấy mình. Lòng khát khao thay đổi đã làm cho không ít người dân nhẹ dạ cả tin suýt nữa trở thành thành quách chở che những kẻ vơ vét sạch sành sành của họ.

Tham nhũng trong hệ thống thì đầy rẫy nhưng rất hiếm có những người như Thăng, như Dũng. Tôi không phải là một nhà báo chống tham nhũng. Ba mươi năm làm báo của tôi chủ yếu là phản biện chính sách. Và gần đây, chỉ khi cần ngăn chặn những kẻ tham nhũng khoác áo dân túy tôi mới phải mài ngòi bút của mình. Tôi hy vọng sẽ không còn phải viết về ai như Dũng, như Thăng nữa. Công việc mấy tháng qua của tôi là nghiên cứu về những bất cập trong thể chế, những bất cập đẻ ra tham nhũng.

Giật mặt nạ những kẻ tham nhũng dùng vật liệu dân túy để xây lô cốt là rất cần thiết. Nhưng không thể chỉ làm việc đó bằng một quy trình chính trị nội bộ. Nơi người dân chỉ có thể đứng ngoài la ó hoặc vỗ tay. Cái quy trình đó lệ thuộc rất nhiều vào ý chí của những cá nhân. Khi những kẻ tham nhũng vận hành cái quy trình ấy đông hơn thì nhân dân bó tay.

Ủy viên bộ chính trị hay ủy viên trung ương đều là những “vai vế trong đảng”, đảng có thể sử dụng quy trình chính trị nội bộ của mình để xử. Nhưng, hành vi của họ còn làm tổn hại tới lợi ích quốc gia và tiền bạc của dân. Nếu dân không có thực quyền. Nếu không có nhà nước pháp quyền. Nếu các cơ quan tố tụng luôn phải chờ đợi quy trình chính trị này để túm cổ bọn sâu mọt thì những thành tích chống tham nhũng sẽ rất tạm thời và đất nước rất dễ rơi trở lại cái vòng luẩn quẩn.
----------------------
Góc nhìn của tác giả để tham khảo đối chiếu

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG ĐÃ QUA ĐỜI

NHÀ THƠ "CỬA MỞ" ĐÃ RA ĐI 
Tác giả : Chu Hảo
  

Anh đi thật rồi sao? Vẫn biết là anh sẽ đi, thời gian tính từng ngày… Nhưng hôm nay tôi vẫn bàng hoàng khi mới nghe tin sáng nay Anh đã vĩnh biệt trần thế về nơi chin suối. Chẳng phải cầu xin thì linh hồn anh cũng sẽ siêu thoát  đến nơi vĩnh hằng bởi tâm hồn Anh  đã “Cửa mở” từ lâu…

Mới hôm nào, cách đây vài tuần, tôi  cùng  anh Nguyên Ngọc vào thăm, nhìn Nhà văn, Anh còn thì thầm gọi: “Tây Nguyên!”.  Chị Lan bảo anh vẫn tỉnh táo, nhưng nói thì khó khăn lắm rồi! Và chúng tôi lo…

Lần đầu tiên tôi được biết đến quý danh Viêt Phương là khi bọn  học sinh 7A (Quế Lâm) chúng tôi chuyển về học cấp 3 ở Khu Học xá Trung ương  (KHXTW, Nam Nình, TQ) vào năm 1957. Được biết, mấy năm trước, trên đường tháp tùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ hội nghị Geneve về Hà Nội ghé qua TQ, Anh đã “bị” GĐ KHXTW Võ Thuần Nho xin Thủ tướng cho ở lại làm trợ lý. Nghe đồn rằng các giáo sư, thầy giáo và cán bộ của Khu thỉnh thoảng vẫn được nghe anh Việt Phương giảng lý luận chính trị thay ông  Nho mỗi khi ông đi vắng; nhiều học viên cứ mong ông đi vắng vì bài giảng của viên trợ lý trẻ (mới 25 tuổi) sinh động hơn và cứ nói một lèo, hết sức lôi cuốn mà chằng có giấy tờ gì trong tay!  Lại còn nghe có cô giáo xinh xắn, mỗi lần nghe anh Việt Phương phổ biến tin tức thời sự cho toàn trường là suốt buổi cứ “ngẩn tò te” hớp lấy từng lời. Cô giáo ấy sau này là người vợ mẫu mực, thủy chung, tận tụy  suốt đời của Anh – Chị Tú Lan, người vò võ ngày đêm suốt mấy tháng trời bên Anh từ khi lâm bạo bệnh.

Vào những năm 1958-1960 anh Việt Phương rất nổi tiếng với những bài phát biểu trước thanh niên Hà Nội. Tôi thường không bỏ qua các buổi diễn thuyết ấy; và say mê đến độ hay “diễn thuyết lại” những bài ấy cho bạn bè mình nghe với niềm hứng khởi không tả được. Nghe nói chính Thủ tướng Phạm  Văn Đồng cũng đã “phát hiện”  ra người trợ lý trẻ của mình qua các buổi diễn thuyết của Chính ủy trung đoàn Nam tiến 20 tuổiViệt Phương,  trong các hội nghị thanh niên, từ hồi  1947, khi ông phụ trách “Chỉnh phủ Miền Nam Trung bộ” . Như vậy tôi biết anh Việt Phương như một Nhà hùng biện đúng nghĩa. Trong suốt cuộc đời làm việc của Anh, các bài phát biểu thường là những bài diễn thuyết hùng hồn sắc sáo và luôn luôn mới lạ. Anh ra đi vào lúc cái văn hóa diễn thuyết đang suy tàn, kém xa cái thời “ Buổi Diễn thuyết người đông như hội/ kỳ Bình văn người đến như mưa” cách nay hơn một thế kỷ. Tiếc lắm thay!

Tôi biết Anh như một Nhà thơ đặc biệt: Nhà thơ chính luận, vị nhân sinh đã đành, nhưng cũng vị Nghệ thuật không kém. Có rất nhiều câu thơ hết sức cảm động về tình người, về số phận con người hòa cùng cảnh vật… rải rác trong các bài thơ của Anh. Những trăng sao huyền ảo, nắng  gió lung linh,  khói mây bảng lảng, giòng sông, bến nước … được Anh vẽ trong thơ như những bức tranh thủy mạc, nhìn đến nao lòng. Đương nhiên, thuộc thế hệ đàn em của Nhà thơ, chúng tôi không thể không “thích” bài thơ mà vì nó Anh vướng vào “tai nạn nghề nghiệp”: bài “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”. Đấy là bài chính luận, lần đầu tiên phát biểu công khai những nhận thức có tính chất  phản tư của những người “đi trước thời đại”- những người trí thức có trí tuệ và có lương tâm, qua các câu “thơ”: “Ta nhất quyết đồng hồ Liên-xô tốt hơn đồng hồ Thụy sỹ”, “ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”, “Ta đã thấy những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao/Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”. Anh là nhà thơ của cuộc đời, của cuộc đáu tranh giữa cái Thiện và cái Ác…

Những  năm gần đây, trước khi anh mệt nặng,  tôi còn  vinh hạnh được  cùng Anh tham gia nhóm nghiên cứu  tự nguyên, thảo luận về những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc, góp phần vào việc đổi mới tư duy và nhận thức  để phát triển đất nước. Ở đây anh là một nhà chính trị dầy dặn kinh nghiệm, hết sức tâm huyết, giàu trí tuệ và đầy trách nhiêm. Anh thường là người cuối cùng duyệt lại các văn kiện chính luận mà nhóm nghiên cứu chúng tôi nhất trí công bố. Với nhãn quan chính trị xa rộng, không ai có thể làm tốt hơn anh trong việc giữ thái độ chừng mực, chính xác hóa các khái niệm và thuật ngữ, gọt bỏ những chố trùng lặp v.v…Một Nhà chính trị nhân văn đã đi xa…

Tôi xin thành kính thắp nén hương này để tưởng nhớ anh Việt Phương -  một Nhà Hùng biện, một Nhà Thơ, một Nhà Chính trị nhân văn của chúng ta vừa mới ra đi…

Viện Phan Châu Trinh, Hội An ngày 6 tháng 5 năm 2017.
Chu Hảo
 -------------------------------------------------
 Nguồn TAI ĐÂY

Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

Thăm anh Bắc Việt cựu Trung đội trưởng TSQ Cục TC/TCCT

Vợ chồng anh Bắc Việt thứ 3 và 4 từ phải qua trái

Thời đó (mùa đông 1952), một bản nhỏ tên bản Múc, thuộc Huyện Đại Từ , gần Quán Vuông (Thái Nguyên) được chọn làm nơi đóng quân của TSQ Cục Tổ chức , TCCT. Gọi là Thiếu sinh quân nhưng chúng tôi hầu hết là con cháu của các ông bố, ông bác ông chú bộ đội tại ngũ. Chúng tôi- những đứa nhóc từ 8 đến 15 tuổi được chia thành 2 Trung đội . Trung đội nam và Trung đội nữ . Trung đội nam, anh Chí Thiện làm Trung đội trưởng, anh Bắc Việt làm trung đội phó


Nguyên Trung đội phó TSQ cục TC. TCCT Nguyễn Bắc Việt (hiện nay 81 tuổi) ra tận cổng đón các cựu đội viên  của mình . ( Bên phải là Nguyễn Quang Trung, em trai Nguyễn văn Dũng (K4) và Nguyễn Thế Hùng (K5. đã mất).

Chúng tôi được cấp phát trang phục và 1 vài đồ dùng như lính nhưng đều rộng thùng thình. Giống lính nhất là bữa ăn gõ kẻng, dùng đũa 2 đầu và có trưởng mâm phát lệnh " gắp thịt, gắp!" " Chan canh! Chan !". Ngán nhất là những đêm (mùa đông rừng núi), cả trung đội đang nằm úp thìa ngủ ngon trên chiếc "giường" ken bằng nứa dài cả chục mét thì còi báo động (Giả), phải vùng dậy, chạy quanh sân rồi tập họp điểm danh và kiểm tra xem có cu cậu nào tè dầm hay không ! Nặng nhọc nhất là những phiên tiểu đội được phân công ra kho quân nhu ở Quán Vuông lấy gạo về cho đơn vị. Nhưng cũng là vui nhất , vì "chim được xổ lồng" tha hồ chơi đùa suốt cả đoạn đường rừng 4,5 cây số từ sáng đến chiều ! Đời TSQ của chúng tôi, người lâu nhất chỉ kéo dài 6 tháng nhưng những kỷ niệm thì mãi mãi không quên. Anh trung đội phó của chúng tôi sau khi rời quân ngũ là cán bộ cốt cán trong ngành Tuyên huấn TW luôn luôn vững vàng Chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lê và Tư tưởng bác Hồ mặc cho các con đã là những ông chủ doanh nghiệp quản lý vài trăm công nhân đã và đang làm giầu cho gia đình và cho xã hội ! Trung đội phó của chúng tôi năm nay đã qua tuổi 80. Cả anh chị từ chối lời mời của các con lên ở ngôi nhà cao tầng đầy đủ tiện nghi hiện đại mà vui vẻ thỏa mãm sống trong 1 căn nhà trệt sát bên cạnh, với tiện nghi hình như cũng gìà nua cũ kỹ như ông bà chủ. Có khác chăng là ngay trước cửa nhà có một hồ nước trong xanh để ông bà chủ ngồi ngắm đàn cá cảnh tung tăng bơi lội ...


 Người đẹp TSQ Cục TC Lê Thiên Hương và chủ trại nuôi yến Nguyễn Kinh xúc động nắm tay nguyên Trung đội Phó của mình. 

 Anh Bắc Việt và phu nhân tiếp khách quý

 Trong sân vườn, ao cá ...

 Tòa biệt thự các con xây cho cha mẹ cùng ở, nhưng vợ chồng anh chị Bắc Việt đã từ chối đề xuồng ở căn nhà trệt bên cạnh, với tiện nghi đơn giản phù hợp với nếp sống của người già.



Vui thú với vườn cây, ao cá giữa không gian thoáng đãng ...

Chủ nhà ra tận xe chào tạm biệ các cựu TSQ 

Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2017

Tiệc nhỏ mừng Sinh nhật "3 người đàn ông họ Vũ " cùng chung 1 ngày

04 THÁNG 5/2017
Vũ Hoàng Việt , Vũ Anh Khoa, Vũ Doãn Bình 
Từ trái sang : Bống và mẹ Hương, ba Bình.
Từ phải sang : Tí Ti, cu Bi và Mẹ Thơ, ba Việt . 
Thêm ông nội ...
(Kiểm tra quân số, hóa ra toàn lính họ VŨ, chỉ trừ 2 người phụ nữ đều họ BÙI !)

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

KHÁNH LY TIẾT LỘ VÌ SAO TRỊNH CÔNG SƠN KHÔNG YÊU BÀ

Theo Nguyễn Hằng (Dân Trí)
Dân Việt - Lần đầu tiên, Khánh Ly chia sẻ về cuộc hẹn cách đây nhiều năm khiến Trịnh Công Sơn “suýt chết”. Và cũng lần đầu tiên, nữ danh ca kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa hai người và tiết lộ những lý do vì sao cố nhạc sĩ không thể yêu bà…
“Thật xấu hổ nếu nhận vơ tình yêu với Trịnh Công Sơn”
Trở về Việt Nam để tiếp tục thực hiện chuỗi chương trình từ thiện “Vòng tay nhân ái- Những nẻo đường Việt Nam” và tưởng nhớ 16 năm ngày mất của Trịnh Công Sơn, lần đầu tiên nữ danh ca Khánh Ly- “người tình định mệnh” trong âm nhạc của cố nhạc sĩ đã có những chia sẻ rất thật lòng.
“Khi ông Sơn mới mất, có những người nhận mình là người yêu của Trịnh Công Sơn. Tôi có thể tự nhận điều đó, rất có lý và sẽ không ai thắc mắc cả, thậm chí người ta sẽ nói: “Đấy thấy chưa, phải vậy chứ!” Nhưng trái tim có lý do của nó, tôi không thể “ăn cắp” thứ không phải của mình. Tôi không thể nhận vơ được, xấu hổ lắm!”, Khánh Ly thẳng thắn khi lần nữa được hỏi về tình cảm với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Bà nói, nếu yêu thì bà đã yêu ông ngày từ thuở đầu gặp gỡ chứ không thể nào đợi mấy chục năm sau mới yêu. Thậm chí, bà còn đưa ra những lý do vì sao Trịnh Công Sơn không thể yêu mình: “Tại sao tôi với ông Sơn không thể yêu nhau? Lý do: Ông Sơn không bao giờ yêu người nào đã có gia đình. Tuyệt đối thế! Cũng như ông cho rằng, trong gia đình bạn bè, đến nhà chơi với anh thì không được yêu em, cũng như ngày xưa thầy giáo không được quyền yêu học trò.
Lúc gặp ông, tôi là người đã có chồng, có con. Không bao giờ có chuyện ông Sơn yêu tôi mà tôi cũng không thể yêu ông, bởi vì, dù gì tôi cũng yêu chồng. Tôi chưa biết gì về ông Sơn để tôi có thể hi sinh gia đình mình. Thời gian qua, tình cảm trượt đi, rồi coi như không có.
Tôi nhớ một lần vì cãi nhau với chồng, đi ngang qua hồ Xuân Hương (Đà Lạt) tôi rút cái nhẫn ném vèo xuống nước và cắt tóc ngắn. Trước đó, ngày nào đi chợ tôi và ông Sơn cũng hẹn nhau ở quán café để trò chuyện, hoặc ông dạy tôi hát. Hôm đó, vừa nhìn thấy tôi, ông Sơn đã quay người đi không nói năng chào hỏi. Tôi lập tức đuổi theo hỏi: “Tại sao anh thấy em, anh tránh không nói câu nào?” Ông nói: “Anh không muốn gặp người điên!” Hóa ra, ông giận vì tôi cắt tóc ngắn.”
Theo Khánh Ly, Trịnh Công Sơn rất thích mái tóc dài. Trịnh Công Sơn kể với bà, “Như cánh vạc bay” được ông lấy cảm hứng từ lần đi chơi với một cô người yêu, là ai ông không nói. Cô gái mặc áo dài, mái tóc dài với vai gầy guộc nhỏ, khi đi qua con suối, cô gái khẽ vén quần lên một tí, trên trời là nắng, ở dưới là nước… Hình ảnh đó đẹp vô cùng!
Cũng theo chia sẻ của Khánh Ly, cố nhạc sĩ yêu những người có mái tóc dài, có đôi vai gầy guộc nhỏ. Dễ nhận thấy, đưa tay, đưa tóc, đưa mắt và cả chân nữa vào trong âm nhạc. “Đó là lý do tại sao, thời gian đó người ta, đặc biệt giới sinh viên lại yêu ông nhanh đến vậy. Yêu rất nhiều vì ca từ lạ quá, “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Điều đó mình vẫn thường nói với nhau, nhưng chưa ai đưa vào nhạc, lại đưa vào hay như Trịnh Công Sơn. Cho nên, ông Sơn tạo cho mình một ngai riêng về ngôn ngữ. Chắc phải lâu lắm mới tìm được một người như Trịnh Công Sơn”, bà bộc bạch. Người yêu của Trịnh Công Sơn có những ai, điều đó còn mơ hồ nhưng bà biết rõ “người đàn bà mà Trịnh Công Sơn yêu nhất là mẹ, đó là tình yêu lớn nhất của ông!”.
Khánh Ly nói: “Tôi không cạnh tranh được với những người khác, các cô quá đẹp, quá trẻ, tài năng… Tôi chẳng có gì cả. Nhưng tôi lại thấy mình là người may mắn. Tôi chỉ là người đi bên cạnh Trịnh Công Sơn, đi dưới bóng mát của ông. Hóa ra tôi lại là người được sung sướng hơn những người được ông nói tiếng “Anh yêu em”!

Cuộc hẹn định mệnh và lần gặp gỡ sau cuối
Trong buổi trà đàm tối ngày 27.3 tại Hà Nội, Khánh Ly nhớ lại những kỷ niệm khó quên trong chặng đường đời quá nửa đời người đồng hành cùng với Trịnh Công Sơn. Bà tiết lộ, Trịnh Công Sơn từng “chết hụt” trong cuộc hẹn cà phê với mình.
“Có lần, tôi hẹn ông Sơn tới phòng trà Tự do nằm trên đường Tự do nay gọi là đường Đồng Khởi. Khi đó tôi hát ở phòng trà này. Tôi hẹn ông Sơn ngồi trên gác lửng, uống cà phê nghe Mai Hương, Tuấn Ngọc hát. Đêm hôm đó, ông Sơn lại ngồi một quán cà phê khác, khi ông chưa kịp tới chỗ hẹn với tôi thì phòng trà bị gài mìn nổ khiến mấy người chết. Gác lửng nơi tôi hẹn ông Sơn sẽ ngồi ở đó bị sập xuống. May lúc đó, ông Sơn chưa kịp đến, nếu không tôi ân hận cả đời”, bà kể.
Đó là cuộc hẹn ám ảnh của Khánh Ly- Trịnh Công Sơn, nhưng lần gặp gỡ khiến bà day dứt nhất là lần gặp gỡ trước khi ông mất. Năm 2000, bà một mình trở về Việt Nam đến thăm Trịnh Công Sơn. Như bao lần gặp gỡ khác, giữa hai người thường im lặng, Trịnh Công Sơn ngồi uống rượu hoặc ông đệm đàn cho Khánh Ly hát. Lần này, Khánh Ly bỗng hỏi: “Ai anh Sơn cũng vẽ hết, chỉ có em là anh Sơn không vẽ bức nào hết”. Nghe Khánh Ly nói xong, Trịnh Công Sơn nổi giận: “Đứa mô cũng vậy đó” (Tức là mấy đứa em của ông cũng hay như thế, đứa nào cũng thế - Khánh Ly).
“Ông Sơn vẽ tranh, nhưng không nhận đặt hàng, thích thì ông vẽ, ông không muốn thì có trả mấy ngàn USD ông cũng không bán. Thực ra, ông đã vẽ tôi rồi nhưng vì tôi muốn nhõng nhẽo nên nói vậy. Ai ngờ, ông Sơn nổi giận lạ lùng. Tự nhiên tôi tủi thân vì chưa bao giờ bị la như vậy. Lúc ông nạt vậy, tôi khựng lại, không biết nói gì, tay không biết để đâu.
Tôi nhìn ông rồi đi về. Vừa buồn, vừa giận, vừa đau. Tự nhủ, nhất định không bao giờ gặp ông Sơn nữa. Mai sẽ đi đổi vé bay về Mỹ. Cả đêm tôi không ngủ. 6 giờ sáng điện thoại cho cháu đi café , nhưng tới 11 giờ trưa, tôi chịu không nổi, muốn đi tới chỗ ông, nhưng vì lòng tự ái… Rồi, có chuông điện thoại, ông Sơn gọi: “Ở đâu?”, tôi nói “Em đang uống café ”. Ông nói, “Sao không tới?” chỉ chờ điều đó thôi tôi tới liền. Và hai người coi như… không có chuyện gì xảy ra”, Khánh Ly kể lại.
Nhưng sau khi quay trở lại Mỹ thời gian ngắn thì Khánh Ly điếng người khi nghe tin Trịnh Công Sơn mất. Bà nhớ lại: “Tôi có linh tính lạ lắm, người sắp đi thay đổi tính tình lạ. Các cụ ngày xưa vẫn nói là điềm gở, quả thật chưa khi nào tôi thấy ông Sơn có mặt giận dữ như vậy. Khi về Mỹ, chồng tôi có hỏi thăm sức khỏe của ông Sơn, tôi nói: “Anh Sơn yếu lắm!” Tôi linh tính điều đó. Cho nên, sau khi anh Sơn mất. Tôi nghĩ anh Sơn chọn ngày, giờ để đi.
Có lần ông Sơn hỏi tôi: “Bạn bè ngoại quốc rủ anh ở lại đó thì em nghĩ anh có nên ở lại không?” Tôi có nói, đại ý “chỉ có thể sống và chết ở Việt Nam”. Ông Sơn chỉ hỏi tôi lần đó, sau này không đề cập vấn đề qua Mỹ nữa!”.
Mỗi lần nghĩ lại những chuyện xảy đến, Khánh Ly nói bà không đủ sáng suốt để hiểu được nhưng sau đó nghĩ lại thấy day dứt vô cùng: “Tại sao lúc đó mình không biết người này sắp bỏ mình đi để mình có thể làm những điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn. Dù chỉ là mời người ta một ly chè, gọi một đĩa trái cây…, những điều mà mình chưa bao giờ làm. Mọi chuyện xảy ra rồi mới biết, mới tiếc cho nên lần trở về Hà Nội trước đó, tôi có nói: chuyện ngày hôm qua mình biết, chuyện ngày hôm nay mình biết nhưng chuyện ngày mai mình không biết. Nếu làm được gì cho nhau hãy làm, không có để ngày mai. Tại không ai biết ngày mai chuyện gì xảy ra cả. Nhiều đã người ôm hận, và mình cũng hối hận cả đời, vì điều mình chưa kịp làm cho những người mình quý…”.

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

ĐỂ HIỂU HƠN VỀ MỘT NHÀ THƠ CHÚNG TA HẰNG YÊU QUÝ: CHẾ LAN VIÊN

Chế Lan Viên, từ tiếng kêu bi ai đến lời sám hối muộn màng.

Đỗ Trường
Có thể nói, từ đầu thế kỷ thứ hai mươi cho đến nay, Chế Lan Viên được đánh giá là một nhà thơ lớn tài năng. Và khi nghiên cứu, ta có thể thấy, thơ văn cũng như con người ông có nhiều mâu thuẫn, phức tạp, đa diện nhất trong dòng văn học sử Việt Nam từ trước đến nay. Có lẽ, xuất phát từ mâu thuẫn nội tâm ấy, ông luôn làm người đọc phải kinh ngạc, và không chỉ đưa đến nhiều điều thú vị, mà còn cả những điều nhạt nhẽo, khó chịu khác. Ở cái tuổi mười bảy, Chế Lan Viên rất đĩnh đạc, bất ngờ đóng thẳng vào chân móng của trào lưu thơ mới, bằng thi tập Điêu Tàn rắn chắc và già dặn. Ngay từ tập thơ đầu này, ta có thể thấy, thi pháp cũng như tư tưởng Chế Lan Viên bộc lộ một cách rõ ràng, mạch lạc và tính cách khác lạ. Và cùng một thời điểm xuất phát ấy, nếu Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương…đang chờn vờn mây trời, sông nước, với nỗi đau tình ái, thì tiếng thơ Chế Lan Viên bi ai, quằn quại với thân phận, nỗi đau của con người, của dân tộc. Sau 1945, tuy tài năng, vốn sống được nâng lên và dày dặn hơn, nhưng thi pháp, tư tưởng, ngòi bút của ông bẻ ngoặt theo một chiều hướng đã định. Để rồi, khi trở về với đất, ông phải mang theo một nỗi u hoài, với những lời thán ca muộn màng, tiếc nuối.
Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan sinh năm 1920 tại Quảng Trị, theo học và chỉ đỗ bậc Thành chung (cấp 2) ở Qui Nhơn. Và suốt dọc tuổi thơ Chế Lan Viên gắn liền với mảnh đất nơi đây. Ở đó, cũng cho ông nguồn cảm hứng cùng với Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Bích Khê lập ra nhóm Trường Thơ Loạn. Năm 1945, ông tham gia kháng chiến, và sau hiệp định Geneve 1954 tập kết ra Bắc. Từ đó, Chế Lan Viên làm văn nghệ, và tuyên huấn tư tưởng. Ông mất năm 1989 tại Sài Gòn.
Sự nghiệp văn thơ của Chế Lan Viên đồ sộ, lừng lững trên văn đàn, xuyên suốt cả một thế kỷ. Ông viết nhiều thể loại, kể cả phê bình. Bỏ qua định kiến tư tưởng, chính trị, dường như tập thơ nào của Chế Lan Viên cũng hay và mới, nếu xét về hình thức nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng như các thi nhân khác, đi sâu vào chi tiết, ta có thể thấy, trong đó không phải, không có những bài thơ, câu thơ dở. Âu đó cũng là lẽ thường tình trong nghệ thuật sáng tạo. Nhưng để chọn ra những tập thơ tiểu biểu cho ba giai đoạn sáng tác của ông, với tôi phải là Điêu Tàn ấn hành năm 1937, Ánh Sáng Và Phù Sa xuất bản năm 1960, và  Di cảo thơ viết vào những năm cuối đời.
* Một thiên tài sớm nở.
Không hiểu sao, tôi sợ phải nghe cái danh từ (hay vương miện) thần đồng dùng để gán, để chụp lên đầu cho một ai đó đến vậy. Nhưng nếu buộc phải dùng nó để đánh giá, thì với tôi: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ hai mươi đến nay, chỉ xảy ra có một lần, và thần đồng duy nhất phải là cậu thiếu niên Chế Lan Viên cùng thi tập Điêu Tàn. Có thể nói, đây là tập thơ chín sớm nhất, vừa ra đời đã trở thành cổ thi. Đọc nó, ta nghe như có tiếng tiền nhân vọng về từ hàng ngàn năm trước vậy.
Cũng như Đinh Hùng, Bích Khê…Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng, siêu hình cũng như thi pháp của các nhà thơ lãng mạn Âu- Mỹ như Budelaire, Verlaine, Edgar Allan Poe. Tuy tiếp thu và chịu sự ảnh hưởng như vậy, nhưng Chế Lan Viên với Điêu Tàn vẫn giữ được nét cổ Đường thi.
Đến với Điêu Tàn, Chế Lan Viên từ bỏ thế giới hiện hữu, tìm về thế giới hồn ma vô thực. Vì vậy, quan niệm cũng như biểu hiện của cái đẹp trong mĩ học hoàn toàn thay đổi. Nếu trời, mây trăng gió (thiên nhiên, con người) là hình ảnh, cái đẹp trong thơ Xuân Diệu, thì sọ trắng ma thiêng, đau thương, đổ nát hoang tàn mới là đối tượng thẩm mĩ trong Điêu Tàn của Chế Lan Viên.
Đọc Điêu Tàn tưởng như nghe được tiếng khóc, tiếng kêu bi ai tiếc nuối, nhìn được sự tang tóc với nỗi đau vong quốc. Nhưng lặng lại giây lát, dường như ta thấy vẫn còn chưa đủ. Mà sau nó còn là những hồn ma, bóng quế nhập đồng vào cậu bé Chế Lan Viên, hay Chế Lan Viên hóa vào những bóng ma, những đầu lâu, và hộp sọ cùng những nắm xương khô dắt nhau tìm lại chính mình và dân tộc mình: “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”. (Trên đường về). Ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây, để không chỉ thấy được một dân tộc với quá khứ anh dũng và huy hoàng, cùng những đền đài uy nghi, tráng lệ đã bị bức tử, mà còn cảm được áng thơ tuyệt đẹp, u mang hoài cổ của Chế Lan Viên:
“Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành…“ (Trên đường về).
Và trên con đường ấy, nhà thơ đã nhìn thấy sự hồi sinh, bất diệt của một dân tộc: “Nước non Chàm chẳng bao giờ tiêu diệt/ Tháng ngày qua vẫn sống với trăng mờ“ (Bóng tối). Vâng! Cái tư tưởng độc lập dân tộc Hời (Chăm) hay Việt ấy của Chế Lan Viên tuy mới chỉ phảng phất. Nhưng có lẽ, đã cảm được điều đó, nên chính quyền thực dân vội đục bỏ hai câu thơ trong bài chăng? Trên Đường Về là một bài thơ như vậy, và nó cũng là một trong những bài thơ hay nhất trong thi tập Điêu Tàn:
“Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
Quay về xem non nước giống dân Hời
——-
Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than…“
Tuy tự vẽ ra con đường ấy, để đi vào thế giới của cô hồn, lấy đau thương làm thước đo thẩm mĩ, nhưng càng đi nó càng làm cho người thi sĩ cô đơn, chán chường hơn: “Đường về thu trước xa xăm lắm/ Mà kẻ đi về chỉ một tôi”. Điều đó, phải chăng không chỉ là nỗi buồn thương cho dân tộc, cho giống nòi, mà còn là tấm lòng nhân đạo cao cả của thi nhân? Thật vậy, Xuân là một bài thơ điển hình trong thi tập này của Chế Lan Viên đã làm được điều đó. Nếu những bài thơ xuân của Nguyễn Bính, Anh Thơ… cùng viết vào thời điểm đó, là sự thanh bình, tươi mới, thì Xuân của Chế Lan Viên là sự bế tắc của cuộc sống cũng như tâm hồn. Từ những bế tắc, cô đơn ấy luôn làm cho nhà thơ phải chống chọi, níu kéo vào thời gian, vũ trụ. Và chính cái mùa thu lá rụng đó mới là nơi ẩn nấp, che chắn cho tâm hồn đang nhỏ máu của thi nhân. Nhưng cái vòng quay tuần hoàn của thời gian kia, vẫn đang cày xới đến cái tận cùng của nỗi đau và tuyệt vọng ấy. Và rồi, dường như nhà thơ đã bất lực? Với tôi, Xuân của Chế Lan Viên là một là bài thơ viết về mùa xuân lạ nhất, sầu thảm nhất, và hay nhất của nền văn học Việt Nam:
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu.
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
— Với tôi, tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây đem chắn nẻo xuân sang!
Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!…“
Bi thương là thế, và cứ tưởng rằng, bị chìm sâu dưới những nấm mồ, thời gian hóa thạch, nhưng khát vọng của con người luôn trỗi dậy, hướng về một thế giới khác lạ, mênh mông và xa thăm thẳm: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi giữa trời xa“.  Nhưng, dù có ở chân trời góc bể nào, nỗi ám ảnh cả thể xác lẫn tâm hồn đó vẫn không hề buông tha, Chế Lan Viên phải co người trốn chạy, và như con tò vò làm tổ ẩn núp trong chính trái tim mình: “Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo!“ (Những sợi tơ lòng).
Đọc Điêu Tàn, ta có thể thấy những bài thơ thất ngôn, bát ngôn của Chế Lan Viên, dường như không hẳn theo một mạch chảy. Mỗi khổ trong bài thơ như là một  bài thơ thất ngôn, bát ngôn tứ tuyệt. Những khổ thơ này, hoàn toàn có thể hoán đổi vị trí cho nhau, nhưng nội dung chuyển tải cả bài thường không hề thay đổi. Nếu có, sự thay đổi đó không nhiều. Với thủ pháp nghệ thuật này, sau này chúng ta bắt gặp nhiều trong thi tập Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng.
Và có lẽ, không chỉ trong thơ, mà một số cuốn tiểu thuyết, văn xuôi gần đây, có thể ít, nhiều cũng chịu ảnh hưởng từ Điêu Tàn (?) đưa thế giới hồn ma, siêu thực vào tác phẩm của mình như: Dạ Tiệc Qủy của Võ Thị Hảo, Que Diêm Thứ Tám của Văn Biển, hay Cò Hồn Xã Nghĩa của Phạm Thành. Và nó đã rất hành công về nội dung, ý đồ chuyển tải của nhà văn đến người đọc.
Có thể nói, ngay từ thuở ban đầu đến với thi ca, cậu bé Chế Lan viên đã vạch ra một con đường riêng cho mình. Và cho đến nay, Điêu Tàn vẫn là tập thơ độc nhất vô vị của văn chương Việt về khuynh hướng sáng tác ấy. Với tôi, cùng với Lửa Thiêng của Huy Cận, Điêu Tàn là tập thơ tiền chiến hay, lạ và độc đáo nhất.
*Một cái loa phường.
Tháng 8-1945 là bước ngoặt, đưa con người cũng như thơ văn Chế Lan Viên theo một chiều hướng khác. Ông tham gia Việt Minh và làm báo chí, văn hóa văn nghệ. Từ đây, ông phải giải quyết mâu thuẫn chính trong nội tâm của mình. Và trong mười lăm năm ấy (1945-1960) Chế Lan Viên đã bốc được con ma Hời ra khỏi linh hồn bằng thi tập Ánh Sáng Và Phù Sa.
Đọc Ánh Sáng Và Phù Sa  ta có thể thấy, ngay từ ngày đầu đến được với Đảng CS, Chế Lan Viên hả hê, sung sướng và thốt lên, đảng là cha là mẹ, một lần nữa đã tái tạo ra ông. Thật vậy, có lẽ khó tìm ra một nhà văn, nhà thơ nào yêu đảng hơn Chế Lan Viên:
“…Tôi đứng dưới cờ, đưa tay tuyên thệ
Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ
Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu
Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn rau“  (Kết nạp đảng trên quê mẹ)
Và trước đảng, Chế Lan Viên như một con chiên ngoan đạo. Ông dằn vặt, mặc cảm với quá khứ và luôn tìm cách từ bỏ, rũ sạch nó. Chúng ta hãy đọc lại hai đoạn thơ so sánh trong cùng bài Ngoảnh Lại Mười Lăm Năm, tặng và ngợi ca Tố Hữu, cũng như bản tự dày vò kiểm thảo, để thấy rõ sự sám hối của Chế Lan Viên trước đảng thành thật, sâu sắc biết nhường nào:
“Anh thấy trước ngày mai
Cờ hồng treo trước ngõ…
Giữa nhà lao bóng phủ
Tìm đường cho lịch sử
Qua hai hàng cùm xai
Tôi nhìn ra tha ma
Hay quay vào trang sách
Ôi! dân Chàm nước mắt…
Khi đã buồn hiện tại
Thì quay về tháp xưa“
Có lẽ, hơn một lần tôi đã viết, dù bất kỳ chế độ xã hội nào, kể cả những nước tân tiến dân chủ như Âu-Mỹ cũng luôn cần có những văn nghệ sỹ đối lập với chính phủ đương thời, nhằm dự báo, và chỉ ra những yếu, khuyết điểm, thúc đẩy xã hội tốt hơn nữa. Nhưng sống trong một chế độ xã hội quản lý con người bằng chiếc dạ dày, bao tử, thì không chỉ Chế Lan Viên mà dường như nhà thơ, nhà văn nào cũng vậy, không ít thì nhiều cũng phải úp mặt xuống, xoay ngòi bút của mình. Một người được cho là chí khí như Hữu Loan, trước khi về quê thồ đá, ông có đến ba bài tụng ca đảng và lãnh tụ. Đoạn trích dưới đây trong bài Chờ Đội Về được Hữu Loan viết và in vào tháng 2-1956 trên báo Văn sẽ chứng minh điều ấy. Từ đó, người đọc hiểu thêm, dù cách tân hay với hình thức nghệ nào đi chăng nữa, dạng những bài này của tác giả Màu Tím Hoa Sim chỉ dừng lại ở mức vè không vần mà thôi:
“– Ai đã về quê tôi?
Nước sông Hồng
Quanh năm
Chảy mật
Ruộng hai mùa
Mông mênh biển vàng
Nhưng bần cố nông
Vẫn là những kẻ
Mất thiên đường
Lang thang
Trong hỏa ngục.
Vải ấm Đảng cho
Bần cố nông
Không được mặc
Gạo no Đảng cho
Bần cố nông
Không được ăn
Địa chủ
và tay chân
Đem bán chia nhau…. (Nguồn nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân)
Có một điều đặc biệt, và phải nó thẳng, từ ngày có Đảng CS, có hội nhà văn cho đến thời Hữu Thỉnh, Quang Thiều hiện nay, không ai viết ca ngợi đảng và lãnh tụ hay, tài tình bằng Chế Lan Viên. Ngày 7-5-1954 vừa kết thúc chiến dịch Điện Biên, Chế Lan Viên đã viết ngay bài “Bữa Cơm Thường Trong Bản Nhỏ“ rất kịp thời chào đón đảng và bác Hồ trở về thủ đô. Qủa thật, bắt đúng nhịp, hòa vào dòng thác cách mạng như Chế Lan Viên không mấy người làm được. Xét về mặt nghệ thuật, đây là bài thơ song thất lục bát hay so với các tác giả khác có chung một đề tài. Tầm tuổi tôi, ở miền Bắc, chắc chắn hồi học cấp 2, ai cũng phải học thuộc lòng bài này:
“…Từ có Bác cuộc đời chợt sáng
Bát cơm no ngày tám tháng ba
Cơm thơm ăn với cá kho
Công đức Bác Hồ bản nhớ nghìn năm
Bác thương dân chăm ăn chăm mặc
Em đi chợ đồng bằng bán hạt sa nhân
Tháng giêng thêu áo may quần
Tháng hai trẩy hội mùa xuân hãy còn…“
Nếu“Bữa Cơm Thường Trong Bản Nhỏ“ viết theo thể thơ cổ điển song thất lục bát, thì đến với“Người Đi Tìm Hình Của Nước“ được Chế Lan Viên viết theo thi pháp, thể loại mới. Một bài khóc hay, đầy hình tượng ngợi ca lãnh tụ Hồ Chí Minh khi qua đời. Cùng thời điểm đó Tố Hữu cũng nấc lên với bài Bác Ơi, được giới phê bình đánh giá cao, và sau đó đã đưa vào giáo trình giảng dạy cho học sinh phổ thông. Nhưng với tôi, bài thơ này của Tố Hữu thiếu hình ảnh, hình tượng, nặng về kể lể, như người khóc thuê trong đám ma vậy. Thật vậy, cùng một tiếng khóc, nhưng nông, sâu cũng khác nhau xa lắm. Chúng ta hãy đọc lại hai đoạn trích dưới đây, để thấy tiếng khóc của Chế Lan Viên lặn vào trong, khác với tiếng khóc của Tố Hữu như thế nào nhé:
“Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau
Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu
Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ
Cho hôm nay và cho mai sau…“ (Tố Hữu)
“Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin“ (Chế Lan Viên)
Đến với đảng, Chế Lan Viên không chỉ học và viết được những lời ngợi ca, tụng ca, mà ông còn biết chửi. Tiếng chửi của ông đanh đá, và chua ngoa, không khác mấy bà già quê vén váy quay cuồng, khi bị mất cắp gà. Hai đoạn trích dưới đây trong bài Hoa hồng trong bệnh viện và Tiếng hát của thằng điên trong Dinh Độc Lập, được in trong tập Ánh Sáng Và Phù Sa. Nhưng tôi nghĩ, nó hoàn toàn không phải là thơ:
“Bọn giặc chó miền Nam, bay đã uổng!
Cắt thịt da ta, không cắt nổi nụ cười!
Cả chế độ miền Nam bay sụp xuống
Khi thành đồng đã đến lúc vươn vai

Bắt lấy con chó điên trong dinh Độc Lập!
Bắt lấy con thú điên trong dinh độc lập!
Bắt cả tớ thầy treo lên cành cây
Thằng Diệm chết. Thằng Mỹ thì cút ngay“
Có hai câu thơ kết trong bài Cho Uống Thuốc:“Bên ni biên giới là nhà/ Bên kia biên giới cũng là quê hương” được Chế Lan Viên viết khi đang chữa bệnh ở viện lao của Trung Quốc vào tháng 6- 1954. Bài thơ này, ông viết tặng cô y tá, trước khi về nước, tỏ lòng tri ân, vì đã được chăm sóc ân cần như người ruột thịt. Dù ở Trung Quốc mà cho ông cảm giác như đang ở Việt Nam với gia đình, quê hương làng xóm vậy. Và cái cảm giác ấy, xuyên suốt cả bài được tổng kết bằng hai câu thơ trên. Tuy nhiên, muốn hay không trong giai đoạn đó, cũng buộc Chế Lan Viên phải lồng chính trị, bằng hình ảnh bác Hồ, bác Mao của ông vào bài, nhưng đó chỉ là bên lề. Do vậy, có một số người đọc đã hiểu lầm, hoặc chỉ đọc hai câu kết này, rồi kết luận, chụp mũ Chế Lan Viên bán nước. Kinh hơn nữa, nhiều người còn cho rằng, hai câu thơ trên của Tố Hữu, và cứ dựng ba đời nhà ông ấy ra chửi. Viết ra điều này, không có có nghĩa là tôi binh che, hoặc bới móc. Bởi, cuộc sống hay trong văn thơ cũng vậy, viết, hoặc đánh giá rất cần có một sự sòng phẳng.
Có thể nói, Chế Lan Viên là người ham đọc và nghiên cứu. Đến với Ánh Sáng Và Phù Sa ông mở rộng đối tượng, không gian sáng tạo, cũng như  thay đổi hoàn toàn thi pháp. Tuy được nhuộn đỏ tâm hồn, nhưng tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa vẫn chiếm vị trí quan trọng trong thơ ông.
Thật vậy, tuy mang tính thời sự, nhưng Tiếng Hát Con Tàu là bài thơ trữ tình hay và điển hình nhất của Chế Lan Viên vào những năm đầu hòa bình. Và cùng với Lên Miền Tây của Bùi Minh Quốc, bài thơ này đã góp phần không nhỏ kêu gọi, minh họa cho phong trào khai hoang kinh tế, tàn phá rừng đầu nguồn Tây Bắc của đảng, dẫn đến những cơn lũ kinh hoàng, gây bao tang tóc cho đất nước con người.
Ngay đầu thập niên sáu mươi, dường như ít nhiều Chế Lan Viên đã chịu ảnh hưởng thi ca Nga, đặc biệt phương pháp luận làm mới, lạ hình tượng trong sáng tạo của Mikhail MikhailovichBakhtin. Từ những lẽ đó, ta bắt gặp hình ảnh so sánh, liên tưởng độc đáo không chỉ xuyên suốtTiếng Hát Con Tàu, mà còn trên cả thi tập Ánh Sáng Và Phù Sa:  
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.”
Nếu ở Điêu Tàn, ma quỷ sọ người lơ lửng cùng Chế Lan Viên dắt nhau vào cõi hư vô, thì đến Ánh Sáng Và Phù Sa, bằng biện pháp tu từ so sánh ấy, đã kéo ông trở về với cõi thực, cõi của con người. Và sự kết nối giữa tư tưởng và nghệ thuật đó đã mở ra trong thơ Chế Lan Viên:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
Cảm xúc là điều cần cho một thi sĩ, nhưng mở ra được những suy tưởng, để rồi cô lại thành những triết lý đưa vào trang thơ, quả thật không phải ai cũng làm được. Đọc Ánh Sáng Và Phù Sa, ta có thể thấy tính triết lý đan vào trong mỗi câu thơ Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Và từ đó, nhà thơ đã nhìn ra tính triết lý, qui luật tình yêu, nằm trong mối quan hệ mật thiết giữa vụ trụ và con người. Khoảng Cách là một bài thơ như vậy, và nó như được chiết ra từ trí tuệ bậc thày của Chế Lan Viên. Đôi khi đọc nó, tôi cứ ngỡ là định luật trong vật lý, toán học vậy:
Khi em xoay lưng lại với anh                                                                                
Hai đứa cách nhau một vòng quay trái đất
Khi hai đứa mắt đã soi trong mắt
Thì không gian còn khoàng cách nào đâu”
Dường như Chế Lan Viên viết thơ tình không nhiều? Có thể nói, cùng với Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, Ông Đồ của Vũ Đình Liên, Em Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, và Khi Chưa Có Mùa Thu của Trần Mạnh Hảo… Tình Ca Ban Mai của Chế Lan Viên là một bài thơ tình hay nhất ở thể ngũ ngôn của thi ca đất Việt. Ngoài cấu trúc chặt chẽ, với cặp đôi và khoảng cách cân xứng, ta còn thấy Tình Ca Ban Mai có từ ngữ sang trọng, sáng và đẹp. Và vẫn phép hình tượng so sánh làm cho bài thơ e ấp, ẩn chứa mà lung linh đến kỳ lạ. Với tôi, đây là bài thơ toàn bích nhất của Chế Lan Viên được viết trong thời gian này:
“Em đi, như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
Em về tựa mai về
Rừng non xanh lộc biếc
Em ở, trời trưa ở
Nắng sáng màu xanh tre
Tình em như sao khuya
Rải hạt vàng chi chít
Sợ gì chim bay đi
Có thể nói, giai đoạn từ sau 1945 đến khoảng những năm gần cuối của cuộc đời, tâm hồn của thi sĩ Chế Lan viên được ngăn đôi. Bên thì đanh đá, chua ngoa, bên thì nhẹ nhàng, sâu thẳm. Âu đó cũng là cái mâu thuẫn chung của các văn sĩ chỉ được phép đi trên một con đường đã vạch sẵn vậy.
*Lời sám hối muộn màng.
Tôi tin rằng, sau Nhân văn giai phẩm, và nhất là sau 1975 một con người nhạy cảm như Chế Lan Viên, chắc chắn đã nhận ra cái cùng đường tịt lối của đất nước, cũng như thân phận bèo nhèo, bạc nhạc của người cầm bút. Và nếu đi chệch đường rày, vượt ra khỏi cái vạch chỉ đường, thì khoảng cách đến với con ma Hời rất gần. Không vượt qua được cái dạ dày và một chút đặc quyền, danh vọng, nên Chế Lan Viên vẫn cần mẫn làm cái loa phường cho đến những năm hưu trí cuối đời. Âu đó cũng là chuyện thường tình của con người.
Theo cách nói của dân chè chén vỉa hè, Di cảo thơ chủ yếu ra đời khi Chế Lan Viên đã hết đát, trở về với nồi cám heo của mình. Và ông cũng là người mở đường cho những Nguyễn Đình Thi với Gió Bay, Nguyễn Khải với Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất sau này. Tuy có chút muộn màng, nhưng đó cũng là điều đáng kính, đáng trọng, không phải văn nghệ sĩ nào cũng đủ can đảm làm được.
Di cảo gồm bốn phần chủ yếu ghi về những điều vụn vặt, nhưng mang triết lý sống như răn mình, răn đời vậy. Đọc nó, dường như cho ta cảm giác Chế Lan Viên đang đi gần đến Phật pháp, cởi mở tâm hồn hơn. Tuy nhiên, với tôi, có bốn bài giá trị, làm rung động lòng người nhất: Chiếc bánh vẽ, Ai Tôi, Trừ đi, và Tháp Bay-on bốn mặt. Có thể nói, đây là bốn bài thơ không chỉ là lời sám hối, mà còn là những lời cáo trạng của Chế Lan Viên ở giai đoạn cuối đời. Có nhà phê bình cho rằng, viết xong những tác phẩm này, ông đã trút được gánh nặng mang trong mình từ mấy chục năm qua. Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Làm gì nhẹ nhàng, và dễ dãi đến thế, chí ít là đối với Chế Lan Viên, khi đang quay trở về làm người thi sĩ đích thực. Tuy nhiên, tôi nghĩ, trong giai đoạn cuối đời này, chế Lan Viên chưa bốc hẳn được con ma Hời, ma xó thứ hai này ra khỏi linh hồn, nhưng ít nhất ông tự thú nhận ra bản chất, và cũng có thể sẽ đi đến đoạn tuyệt với nó.
Những câu hỏi và tự trả lời này, không phải đến khi Chế Lan Viên viết Ai Tôi? mà có lẽ nó luẩn quẩn trong ông từ bấy lâu rồi. Và lời độc thoại ấy là một trong những thủ thuật, Chế Lan Viên làm cho người đọc thoạt tưởng như một lời thú tội của riêng mình. Nhưng đằng sau nó là sự vạch mặt, phơi bày tội ác của những kẻ quyền hành cao nhất đã gây ra chiến tranh và trận chiến Mậu Thân này. Bởi, ai cũng có thể hiểu rằng, cá nhân người thi sĩ không quyền lực trong và sau cuộc chiến, dám đứng lên nhận trách nhiệm, thì nhân cách nào cho những kẻ có quyền lực cao nhất?
Vâng! Đó là cái tát rất hiếm hoi vào mặt những kẻ có trách nhiệm vào thời điểm đó của Chế Lan Viên, cũng như bộc lộ lòng nhân đạo của con người đối với con người:
“Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm còn sống sót có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó ?
Tôi !
Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi lúc xung phong

Một trong 30 người khi ở mặt trận
về sau mười năm
Ngồi bán quần trên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy mọi chỗ
Chả Huân chương nào nuôi được người lính cũ !
Ai chịu trách nhiệm vậy ?
Lại chính tôi!…”

Giai đoạn này Chế Lan viên chủ yếu viết theo thể tự do, ông để những câu thơ chảy theo những cảm xúc tự nhiên của mình. Trừ Đi là một bài thơ hay và tôi thích nhất trong thời gian này của Chế Lan Viên. Ông thẳng thừng xổ toẹt tất tần tật những thứ thơ văn bồi bút của mình, bởi:“Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!/ Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười”. Nhìn vào chiều dài lịch sử văn hóa Việt, ta có thể thấy: Với người Việt, làm ra lỗi thì dễ, nhưng nhận lỗi thì khó lắm thay. Ba mươi năm trước Chế Lan Viên sám hối, nhận lỗi và xổ toẹt như vậy, quả thật là một sự dũng cảm. Và tuy ông viết cho hậu nhân mà như thể răn lòng mình vậy:
“Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu ? Một nửa
Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!
Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười,
Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ.
Tôi giết cái cánh sắp bay…
trước khi tôi viết
Tôi giết bão táp ngoài khơi
cho được yên ổn trên bờ…”
Dù Chế Lan Viên có tự ví mình la Tháp Bay-on bốn mặt, hoặc muôn mặt đi chăng nữa, ta cũng chỉ nhận ra một thi sĩ đích thực Chế Lan Viên và một Chế Lan Viên gác cửa văn hóa văn nghệ của đảng, khác nữa mà thôi. Và chính Di cảo thơ của ông đã cho tôi thêm cảm hứng viết bài này. Nói dại, nếu Chế Lan Viên không có những Di cảo thơ cuối đời này, thì ông mãi mãi là kẻ gác cửa, thì chẳng đáng tiếc cho một thiên tài lắm sao.
Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của Chế Lan Viên được chia thành ba giai đoạn: Phong trào thơ mới, cùng với thi tập Điêu Tàn, đến cầm canh gõ nhịp, tụng ca, minh họa từ sau 1945, và những Bản cảo sám hối đã và chưa được xuất bản. Ba giai đoạn ấy, cũng là ba tiếng khóc bi – bỉ – hận trong thơ cũng như con người Chế Lan Viên.
Tôi viết bài này, theo đề nghị của ông bạn thời trẻ trâu. Hắn được học hành đến nơi đến chốn, và đang giảng dạy văn học hiện đại ở một trường đại học. Trên bốn chục năm không gặp, hôm rồi vô tình hắn đọc được bài viết về nhà thơ Đinh Hùng, và Vũ Hoàng Chương của tôi, rồi nhận ra nhau qua Fb. Hắn bảo, vẫn đang nghiên cứu về thơ tiền chiến, nếu được tôi viết một bài về Chế Lan Viên, xem đánh giá, suy nghĩ của người Việt ở nước ngoài như thế nào. Giời đất, một kẻ cả ngày úp mặt vào chảo như tôi, mà phải để ông Phó quan tâm thế này. Được thôi, nhưng tôi đọc thật, viết thật đấy, có khi xát ớt vào đít nhau thì bỏ bà. Tôi trả lời vậy. Hắn cười bảo, rất cần như thế…
Và trên đây là những suy nghĩ chủ quan của tôi về nhà thơ Chế Lan Viên, có thể không đúng. Nhưng dù sai hay đúng, tôi hy vọng, nó đóng góp được một phần nào đó, để làm sáng tỏ chân dung một nhà thơ tài năng và cũng đầy mâu thuẫn này.
Leipzig ngày 27-3-2017
Đỗ Trường
------------------------------------------------------------------------------------------
Cảm ơn cụ Nguyên Hân đã sưu tầm gửi cho bài viết tham khảo này