Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

KHÁNH LY TIẾT LỘ VÌ SAO TRỊNH CÔNG SƠN KHÔNG YÊU BÀ

Theo Nguyễn Hằng (Dân Trí)
Dân Việt - Lần đầu tiên, Khánh Ly chia sẻ về cuộc hẹn cách đây nhiều năm khiến Trịnh Công Sơn “suýt chết”. Và cũng lần đầu tiên, nữ danh ca kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa hai người và tiết lộ những lý do vì sao cố nhạc sĩ không thể yêu bà…
“Thật xấu hổ nếu nhận vơ tình yêu với Trịnh Công Sơn”
Trở về Việt Nam để tiếp tục thực hiện chuỗi chương trình từ thiện “Vòng tay nhân ái- Những nẻo đường Việt Nam” và tưởng nhớ 16 năm ngày mất của Trịnh Công Sơn, lần đầu tiên nữ danh ca Khánh Ly- “người tình định mệnh” trong âm nhạc của cố nhạc sĩ đã có những chia sẻ rất thật lòng.
“Khi ông Sơn mới mất, có những người nhận mình là người yêu của Trịnh Công Sơn. Tôi có thể tự nhận điều đó, rất có lý và sẽ không ai thắc mắc cả, thậm chí người ta sẽ nói: “Đấy thấy chưa, phải vậy chứ!” Nhưng trái tim có lý do của nó, tôi không thể “ăn cắp” thứ không phải của mình. Tôi không thể nhận vơ được, xấu hổ lắm!”, Khánh Ly thẳng thắn khi lần nữa được hỏi về tình cảm với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Bà nói, nếu yêu thì bà đã yêu ông ngày từ thuở đầu gặp gỡ chứ không thể nào đợi mấy chục năm sau mới yêu. Thậm chí, bà còn đưa ra những lý do vì sao Trịnh Công Sơn không thể yêu mình: “Tại sao tôi với ông Sơn không thể yêu nhau? Lý do: Ông Sơn không bao giờ yêu người nào đã có gia đình. Tuyệt đối thế! Cũng như ông cho rằng, trong gia đình bạn bè, đến nhà chơi với anh thì không được yêu em, cũng như ngày xưa thầy giáo không được quyền yêu học trò.
Lúc gặp ông, tôi là người đã có chồng, có con. Không bao giờ có chuyện ông Sơn yêu tôi mà tôi cũng không thể yêu ông, bởi vì, dù gì tôi cũng yêu chồng. Tôi chưa biết gì về ông Sơn để tôi có thể hi sinh gia đình mình. Thời gian qua, tình cảm trượt đi, rồi coi như không có.
Tôi nhớ một lần vì cãi nhau với chồng, đi ngang qua hồ Xuân Hương (Đà Lạt) tôi rút cái nhẫn ném vèo xuống nước và cắt tóc ngắn. Trước đó, ngày nào đi chợ tôi và ông Sơn cũng hẹn nhau ở quán café để trò chuyện, hoặc ông dạy tôi hát. Hôm đó, vừa nhìn thấy tôi, ông Sơn đã quay người đi không nói năng chào hỏi. Tôi lập tức đuổi theo hỏi: “Tại sao anh thấy em, anh tránh không nói câu nào?” Ông nói: “Anh không muốn gặp người điên!” Hóa ra, ông giận vì tôi cắt tóc ngắn.”
Theo Khánh Ly, Trịnh Công Sơn rất thích mái tóc dài. Trịnh Công Sơn kể với bà, “Như cánh vạc bay” được ông lấy cảm hứng từ lần đi chơi với một cô người yêu, là ai ông không nói. Cô gái mặc áo dài, mái tóc dài với vai gầy guộc nhỏ, khi đi qua con suối, cô gái khẽ vén quần lên một tí, trên trời là nắng, ở dưới là nước… Hình ảnh đó đẹp vô cùng!
Cũng theo chia sẻ của Khánh Ly, cố nhạc sĩ yêu những người có mái tóc dài, có đôi vai gầy guộc nhỏ. Dễ nhận thấy, đưa tay, đưa tóc, đưa mắt và cả chân nữa vào trong âm nhạc. “Đó là lý do tại sao, thời gian đó người ta, đặc biệt giới sinh viên lại yêu ông nhanh đến vậy. Yêu rất nhiều vì ca từ lạ quá, “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Điều đó mình vẫn thường nói với nhau, nhưng chưa ai đưa vào nhạc, lại đưa vào hay như Trịnh Công Sơn. Cho nên, ông Sơn tạo cho mình một ngai riêng về ngôn ngữ. Chắc phải lâu lắm mới tìm được một người như Trịnh Công Sơn”, bà bộc bạch. Người yêu của Trịnh Công Sơn có những ai, điều đó còn mơ hồ nhưng bà biết rõ “người đàn bà mà Trịnh Công Sơn yêu nhất là mẹ, đó là tình yêu lớn nhất của ông!”.
Khánh Ly nói: “Tôi không cạnh tranh được với những người khác, các cô quá đẹp, quá trẻ, tài năng… Tôi chẳng có gì cả. Nhưng tôi lại thấy mình là người may mắn. Tôi chỉ là người đi bên cạnh Trịnh Công Sơn, đi dưới bóng mát của ông. Hóa ra tôi lại là người được sung sướng hơn những người được ông nói tiếng “Anh yêu em”!

Cuộc hẹn định mệnh và lần gặp gỡ sau cuối
Trong buổi trà đàm tối ngày 27.3 tại Hà Nội, Khánh Ly nhớ lại những kỷ niệm khó quên trong chặng đường đời quá nửa đời người đồng hành cùng với Trịnh Công Sơn. Bà tiết lộ, Trịnh Công Sơn từng “chết hụt” trong cuộc hẹn cà phê với mình.
“Có lần, tôi hẹn ông Sơn tới phòng trà Tự do nằm trên đường Tự do nay gọi là đường Đồng Khởi. Khi đó tôi hát ở phòng trà này. Tôi hẹn ông Sơn ngồi trên gác lửng, uống cà phê nghe Mai Hương, Tuấn Ngọc hát. Đêm hôm đó, ông Sơn lại ngồi một quán cà phê khác, khi ông chưa kịp tới chỗ hẹn với tôi thì phòng trà bị gài mìn nổ khiến mấy người chết. Gác lửng nơi tôi hẹn ông Sơn sẽ ngồi ở đó bị sập xuống. May lúc đó, ông Sơn chưa kịp đến, nếu không tôi ân hận cả đời”, bà kể.
Đó là cuộc hẹn ám ảnh của Khánh Ly- Trịnh Công Sơn, nhưng lần gặp gỡ khiến bà day dứt nhất là lần gặp gỡ trước khi ông mất. Năm 2000, bà một mình trở về Việt Nam đến thăm Trịnh Công Sơn. Như bao lần gặp gỡ khác, giữa hai người thường im lặng, Trịnh Công Sơn ngồi uống rượu hoặc ông đệm đàn cho Khánh Ly hát. Lần này, Khánh Ly bỗng hỏi: “Ai anh Sơn cũng vẽ hết, chỉ có em là anh Sơn không vẽ bức nào hết”. Nghe Khánh Ly nói xong, Trịnh Công Sơn nổi giận: “Đứa mô cũng vậy đó” (Tức là mấy đứa em của ông cũng hay như thế, đứa nào cũng thế - Khánh Ly).
“Ông Sơn vẽ tranh, nhưng không nhận đặt hàng, thích thì ông vẽ, ông không muốn thì có trả mấy ngàn USD ông cũng không bán. Thực ra, ông đã vẽ tôi rồi nhưng vì tôi muốn nhõng nhẽo nên nói vậy. Ai ngờ, ông Sơn nổi giận lạ lùng. Tự nhiên tôi tủi thân vì chưa bao giờ bị la như vậy. Lúc ông nạt vậy, tôi khựng lại, không biết nói gì, tay không biết để đâu.
Tôi nhìn ông rồi đi về. Vừa buồn, vừa giận, vừa đau. Tự nhủ, nhất định không bao giờ gặp ông Sơn nữa. Mai sẽ đi đổi vé bay về Mỹ. Cả đêm tôi không ngủ. 6 giờ sáng điện thoại cho cháu đi café , nhưng tới 11 giờ trưa, tôi chịu không nổi, muốn đi tới chỗ ông, nhưng vì lòng tự ái… Rồi, có chuông điện thoại, ông Sơn gọi: “Ở đâu?”, tôi nói “Em đang uống café ”. Ông nói, “Sao không tới?” chỉ chờ điều đó thôi tôi tới liền. Và hai người coi như… không có chuyện gì xảy ra”, Khánh Ly kể lại.
Nhưng sau khi quay trở lại Mỹ thời gian ngắn thì Khánh Ly điếng người khi nghe tin Trịnh Công Sơn mất. Bà nhớ lại: “Tôi có linh tính lạ lắm, người sắp đi thay đổi tính tình lạ. Các cụ ngày xưa vẫn nói là điềm gở, quả thật chưa khi nào tôi thấy ông Sơn có mặt giận dữ như vậy. Khi về Mỹ, chồng tôi có hỏi thăm sức khỏe của ông Sơn, tôi nói: “Anh Sơn yếu lắm!” Tôi linh tính điều đó. Cho nên, sau khi anh Sơn mất. Tôi nghĩ anh Sơn chọn ngày, giờ để đi.
Có lần ông Sơn hỏi tôi: “Bạn bè ngoại quốc rủ anh ở lại đó thì em nghĩ anh có nên ở lại không?” Tôi có nói, đại ý “chỉ có thể sống và chết ở Việt Nam”. Ông Sơn chỉ hỏi tôi lần đó, sau này không đề cập vấn đề qua Mỹ nữa!”.
Mỗi lần nghĩ lại những chuyện xảy đến, Khánh Ly nói bà không đủ sáng suốt để hiểu được nhưng sau đó nghĩ lại thấy day dứt vô cùng: “Tại sao lúc đó mình không biết người này sắp bỏ mình đi để mình có thể làm những điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn. Dù chỉ là mời người ta một ly chè, gọi một đĩa trái cây…, những điều mà mình chưa bao giờ làm. Mọi chuyện xảy ra rồi mới biết, mới tiếc cho nên lần trở về Hà Nội trước đó, tôi có nói: chuyện ngày hôm qua mình biết, chuyện ngày hôm nay mình biết nhưng chuyện ngày mai mình không biết. Nếu làm được gì cho nhau hãy làm, không có để ngày mai. Tại không ai biết ngày mai chuyện gì xảy ra cả. Nhiều đã người ôm hận, và mình cũng hối hận cả đời, vì điều mình chưa kịp làm cho những người mình quý…”.

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

ĐỂ HIỂU HƠN VỀ MỘT NHÀ THƠ CHÚNG TA HẰNG YÊU QUÝ: CHẾ LAN VIÊN

Chế Lan Viên, từ tiếng kêu bi ai đến lời sám hối muộn màng.

Đỗ Trường
Có thể nói, từ đầu thế kỷ thứ hai mươi cho đến nay, Chế Lan Viên được đánh giá là một nhà thơ lớn tài năng. Và khi nghiên cứu, ta có thể thấy, thơ văn cũng như con người ông có nhiều mâu thuẫn, phức tạp, đa diện nhất trong dòng văn học sử Việt Nam từ trước đến nay. Có lẽ, xuất phát từ mâu thuẫn nội tâm ấy, ông luôn làm người đọc phải kinh ngạc, và không chỉ đưa đến nhiều điều thú vị, mà còn cả những điều nhạt nhẽo, khó chịu khác. Ở cái tuổi mười bảy, Chế Lan Viên rất đĩnh đạc, bất ngờ đóng thẳng vào chân móng của trào lưu thơ mới, bằng thi tập Điêu Tàn rắn chắc và già dặn. Ngay từ tập thơ đầu này, ta có thể thấy, thi pháp cũng như tư tưởng Chế Lan Viên bộc lộ một cách rõ ràng, mạch lạc và tính cách khác lạ. Và cùng một thời điểm xuất phát ấy, nếu Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương…đang chờn vờn mây trời, sông nước, với nỗi đau tình ái, thì tiếng thơ Chế Lan Viên bi ai, quằn quại với thân phận, nỗi đau của con người, của dân tộc. Sau 1945, tuy tài năng, vốn sống được nâng lên và dày dặn hơn, nhưng thi pháp, tư tưởng, ngòi bút của ông bẻ ngoặt theo một chiều hướng đã định. Để rồi, khi trở về với đất, ông phải mang theo một nỗi u hoài, với những lời thán ca muộn màng, tiếc nuối.
Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan sinh năm 1920 tại Quảng Trị, theo học và chỉ đỗ bậc Thành chung (cấp 2) ở Qui Nhơn. Và suốt dọc tuổi thơ Chế Lan Viên gắn liền với mảnh đất nơi đây. Ở đó, cũng cho ông nguồn cảm hứng cùng với Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Bích Khê lập ra nhóm Trường Thơ Loạn. Năm 1945, ông tham gia kháng chiến, và sau hiệp định Geneve 1954 tập kết ra Bắc. Từ đó, Chế Lan Viên làm văn nghệ, và tuyên huấn tư tưởng. Ông mất năm 1989 tại Sài Gòn.
Sự nghiệp văn thơ của Chế Lan Viên đồ sộ, lừng lững trên văn đàn, xuyên suốt cả một thế kỷ. Ông viết nhiều thể loại, kể cả phê bình. Bỏ qua định kiến tư tưởng, chính trị, dường như tập thơ nào của Chế Lan Viên cũng hay và mới, nếu xét về hình thức nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng như các thi nhân khác, đi sâu vào chi tiết, ta có thể thấy, trong đó không phải, không có những bài thơ, câu thơ dở. Âu đó cũng là lẽ thường tình trong nghệ thuật sáng tạo. Nhưng để chọn ra những tập thơ tiểu biểu cho ba giai đoạn sáng tác của ông, với tôi phải là Điêu Tàn ấn hành năm 1937, Ánh Sáng Và Phù Sa xuất bản năm 1960, và  Di cảo thơ viết vào những năm cuối đời.
* Một thiên tài sớm nở.
Không hiểu sao, tôi sợ phải nghe cái danh từ (hay vương miện) thần đồng dùng để gán, để chụp lên đầu cho một ai đó đến vậy. Nhưng nếu buộc phải dùng nó để đánh giá, thì với tôi: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ hai mươi đến nay, chỉ xảy ra có một lần, và thần đồng duy nhất phải là cậu thiếu niên Chế Lan Viên cùng thi tập Điêu Tàn. Có thể nói, đây là tập thơ chín sớm nhất, vừa ra đời đã trở thành cổ thi. Đọc nó, ta nghe như có tiếng tiền nhân vọng về từ hàng ngàn năm trước vậy.
Cũng như Đinh Hùng, Bích Khê…Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng, siêu hình cũng như thi pháp của các nhà thơ lãng mạn Âu- Mỹ như Budelaire, Verlaine, Edgar Allan Poe. Tuy tiếp thu và chịu sự ảnh hưởng như vậy, nhưng Chế Lan Viên với Điêu Tàn vẫn giữ được nét cổ Đường thi.
Đến với Điêu Tàn, Chế Lan Viên từ bỏ thế giới hiện hữu, tìm về thế giới hồn ma vô thực. Vì vậy, quan niệm cũng như biểu hiện của cái đẹp trong mĩ học hoàn toàn thay đổi. Nếu trời, mây trăng gió (thiên nhiên, con người) là hình ảnh, cái đẹp trong thơ Xuân Diệu, thì sọ trắng ma thiêng, đau thương, đổ nát hoang tàn mới là đối tượng thẩm mĩ trong Điêu Tàn của Chế Lan Viên.
Đọc Điêu Tàn tưởng như nghe được tiếng khóc, tiếng kêu bi ai tiếc nuối, nhìn được sự tang tóc với nỗi đau vong quốc. Nhưng lặng lại giây lát, dường như ta thấy vẫn còn chưa đủ. Mà sau nó còn là những hồn ma, bóng quế nhập đồng vào cậu bé Chế Lan Viên, hay Chế Lan Viên hóa vào những bóng ma, những đầu lâu, và hộp sọ cùng những nắm xương khô dắt nhau tìm lại chính mình và dân tộc mình: “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”. (Trên đường về). Ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây, để không chỉ thấy được một dân tộc với quá khứ anh dũng và huy hoàng, cùng những đền đài uy nghi, tráng lệ đã bị bức tử, mà còn cảm được áng thơ tuyệt đẹp, u mang hoài cổ của Chế Lan Viên:
“Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành…“ (Trên đường về).
Và trên con đường ấy, nhà thơ đã nhìn thấy sự hồi sinh, bất diệt của một dân tộc: “Nước non Chàm chẳng bao giờ tiêu diệt/ Tháng ngày qua vẫn sống với trăng mờ“ (Bóng tối). Vâng! Cái tư tưởng độc lập dân tộc Hời (Chăm) hay Việt ấy của Chế Lan Viên tuy mới chỉ phảng phất. Nhưng có lẽ, đã cảm được điều đó, nên chính quyền thực dân vội đục bỏ hai câu thơ trong bài chăng? Trên Đường Về là một bài thơ như vậy, và nó cũng là một trong những bài thơ hay nhất trong thi tập Điêu Tàn:
“Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
Quay về xem non nước giống dân Hời
——-
Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than…“
Tuy tự vẽ ra con đường ấy, để đi vào thế giới của cô hồn, lấy đau thương làm thước đo thẩm mĩ, nhưng càng đi nó càng làm cho người thi sĩ cô đơn, chán chường hơn: “Đường về thu trước xa xăm lắm/ Mà kẻ đi về chỉ một tôi”. Điều đó, phải chăng không chỉ là nỗi buồn thương cho dân tộc, cho giống nòi, mà còn là tấm lòng nhân đạo cao cả của thi nhân? Thật vậy, Xuân là một bài thơ điển hình trong thi tập này của Chế Lan Viên đã làm được điều đó. Nếu những bài thơ xuân của Nguyễn Bính, Anh Thơ… cùng viết vào thời điểm đó, là sự thanh bình, tươi mới, thì Xuân của Chế Lan Viên là sự bế tắc của cuộc sống cũng như tâm hồn. Từ những bế tắc, cô đơn ấy luôn làm cho nhà thơ phải chống chọi, níu kéo vào thời gian, vũ trụ. Và chính cái mùa thu lá rụng đó mới là nơi ẩn nấp, che chắn cho tâm hồn đang nhỏ máu của thi nhân. Nhưng cái vòng quay tuần hoàn của thời gian kia, vẫn đang cày xới đến cái tận cùng của nỗi đau và tuyệt vọng ấy. Và rồi, dường như nhà thơ đã bất lực? Với tôi, Xuân của Chế Lan Viên là một là bài thơ viết về mùa xuân lạ nhất, sầu thảm nhất, và hay nhất của nền văn học Việt Nam:
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu.
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
— Với tôi, tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây đem chắn nẻo xuân sang!
Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!…“
Bi thương là thế, và cứ tưởng rằng, bị chìm sâu dưới những nấm mồ, thời gian hóa thạch, nhưng khát vọng của con người luôn trỗi dậy, hướng về một thế giới khác lạ, mênh mông và xa thăm thẳm: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi giữa trời xa“.  Nhưng, dù có ở chân trời góc bể nào, nỗi ám ảnh cả thể xác lẫn tâm hồn đó vẫn không hề buông tha, Chế Lan Viên phải co người trốn chạy, và như con tò vò làm tổ ẩn núp trong chính trái tim mình: “Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo!“ (Những sợi tơ lòng).
Đọc Điêu Tàn, ta có thể thấy những bài thơ thất ngôn, bát ngôn của Chế Lan Viên, dường như không hẳn theo một mạch chảy. Mỗi khổ trong bài thơ như là một  bài thơ thất ngôn, bát ngôn tứ tuyệt. Những khổ thơ này, hoàn toàn có thể hoán đổi vị trí cho nhau, nhưng nội dung chuyển tải cả bài thường không hề thay đổi. Nếu có, sự thay đổi đó không nhiều. Với thủ pháp nghệ thuật này, sau này chúng ta bắt gặp nhiều trong thi tập Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng.
Và có lẽ, không chỉ trong thơ, mà một số cuốn tiểu thuyết, văn xuôi gần đây, có thể ít, nhiều cũng chịu ảnh hưởng từ Điêu Tàn (?) đưa thế giới hồn ma, siêu thực vào tác phẩm của mình như: Dạ Tiệc Qủy của Võ Thị Hảo, Que Diêm Thứ Tám của Văn Biển, hay Cò Hồn Xã Nghĩa của Phạm Thành. Và nó đã rất hành công về nội dung, ý đồ chuyển tải của nhà văn đến người đọc.
Có thể nói, ngay từ thuở ban đầu đến với thi ca, cậu bé Chế Lan viên đã vạch ra một con đường riêng cho mình. Và cho đến nay, Điêu Tàn vẫn là tập thơ độc nhất vô vị của văn chương Việt về khuynh hướng sáng tác ấy. Với tôi, cùng với Lửa Thiêng của Huy Cận, Điêu Tàn là tập thơ tiền chiến hay, lạ và độc đáo nhất.
*Một cái loa phường.
Tháng 8-1945 là bước ngoặt, đưa con người cũng như thơ văn Chế Lan Viên theo một chiều hướng khác. Ông tham gia Việt Minh và làm báo chí, văn hóa văn nghệ. Từ đây, ông phải giải quyết mâu thuẫn chính trong nội tâm của mình. Và trong mười lăm năm ấy (1945-1960) Chế Lan Viên đã bốc được con ma Hời ra khỏi linh hồn bằng thi tập Ánh Sáng Và Phù Sa.
Đọc Ánh Sáng Và Phù Sa  ta có thể thấy, ngay từ ngày đầu đến được với Đảng CS, Chế Lan Viên hả hê, sung sướng và thốt lên, đảng là cha là mẹ, một lần nữa đã tái tạo ra ông. Thật vậy, có lẽ khó tìm ra một nhà văn, nhà thơ nào yêu đảng hơn Chế Lan Viên:
“…Tôi đứng dưới cờ, đưa tay tuyên thệ
Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ
Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu
Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn rau“  (Kết nạp đảng trên quê mẹ)
Và trước đảng, Chế Lan Viên như một con chiên ngoan đạo. Ông dằn vặt, mặc cảm với quá khứ và luôn tìm cách từ bỏ, rũ sạch nó. Chúng ta hãy đọc lại hai đoạn thơ so sánh trong cùng bài Ngoảnh Lại Mười Lăm Năm, tặng và ngợi ca Tố Hữu, cũng như bản tự dày vò kiểm thảo, để thấy rõ sự sám hối của Chế Lan Viên trước đảng thành thật, sâu sắc biết nhường nào:
“Anh thấy trước ngày mai
Cờ hồng treo trước ngõ…
Giữa nhà lao bóng phủ
Tìm đường cho lịch sử
Qua hai hàng cùm xai
Tôi nhìn ra tha ma
Hay quay vào trang sách
Ôi! dân Chàm nước mắt…
Khi đã buồn hiện tại
Thì quay về tháp xưa“
Có lẽ, hơn một lần tôi đã viết, dù bất kỳ chế độ xã hội nào, kể cả những nước tân tiến dân chủ như Âu-Mỹ cũng luôn cần có những văn nghệ sỹ đối lập với chính phủ đương thời, nhằm dự báo, và chỉ ra những yếu, khuyết điểm, thúc đẩy xã hội tốt hơn nữa. Nhưng sống trong một chế độ xã hội quản lý con người bằng chiếc dạ dày, bao tử, thì không chỉ Chế Lan Viên mà dường như nhà thơ, nhà văn nào cũng vậy, không ít thì nhiều cũng phải úp mặt xuống, xoay ngòi bút của mình. Một người được cho là chí khí như Hữu Loan, trước khi về quê thồ đá, ông có đến ba bài tụng ca đảng và lãnh tụ. Đoạn trích dưới đây trong bài Chờ Đội Về được Hữu Loan viết và in vào tháng 2-1956 trên báo Văn sẽ chứng minh điều ấy. Từ đó, người đọc hiểu thêm, dù cách tân hay với hình thức nghệ nào đi chăng nữa, dạng những bài này của tác giả Màu Tím Hoa Sim chỉ dừng lại ở mức vè không vần mà thôi:
“– Ai đã về quê tôi?
Nước sông Hồng
Quanh năm
Chảy mật
Ruộng hai mùa
Mông mênh biển vàng
Nhưng bần cố nông
Vẫn là những kẻ
Mất thiên đường
Lang thang
Trong hỏa ngục.
Vải ấm Đảng cho
Bần cố nông
Không được mặc
Gạo no Đảng cho
Bần cố nông
Không được ăn
Địa chủ
và tay chân
Đem bán chia nhau…. (Nguồn nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân)
Có một điều đặc biệt, và phải nó thẳng, từ ngày có Đảng CS, có hội nhà văn cho đến thời Hữu Thỉnh, Quang Thiều hiện nay, không ai viết ca ngợi đảng và lãnh tụ hay, tài tình bằng Chế Lan Viên. Ngày 7-5-1954 vừa kết thúc chiến dịch Điện Biên, Chế Lan Viên đã viết ngay bài “Bữa Cơm Thường Trong Bản Nhỏ“ rất kịp thời chào đón đảng và bác Hồ trở về thủ đô. Qủa thật, bắt đúng nhịp, hòa vào dòng thác cách mạng như Chế Lan Viên không mấy người làm được. Xét về mặt nghệ thuật, đây là bài thơ song thất lục bát hay so với các tác giả khác có chung một đề tài. Tầm tuổi tôi, ở miền Bắc, chắc chắn hồi học cấp 2, ai cũng phải học thuộc lòng bài này:
“…Từ có Bác cuộc đời chợt sáng
Bát cơm no ngày tám tháng ba
Cơm thơm ăn với cá kho
Công đức Bác Hồ bản nhớ nghìn năm
Bác thương dân chăm ăn chăm mặc
Em đi chợ đồng bằng bán hạt sa nhân
Tháng giêng thêu áo may quần
Tháng hai trẩy hội mùa xuân hãy còn…“
Nếu“Bữa Cơm Thường Trong Bản Nhỏ“ viết theo thể thơ cổ điển song thất lục bát, thì đến với“Người Đi Tìm Hình Của Nước“ được Chế Lan Viên viết theo thi pháp, thể loại mới. Một bài khóc hay, đầy hình tượng ngợi ca lãnh tụ Hồ Chí Minh khi qua đời. Cùng thời điểm đó Tố Hữu cũng nấc lên với bài Bác Ơi, được giới phê bình đánh giá cao, và sau đó đã đưa vào giáo trình giảng dạy cho học sinh phổ thông. Nhưng với tôi, bài thơ này của Tố Hữu thiếu hình ảnh, hình tượng, nặng về kể lể, như người khóc thuê trong đám ma vậy. Thật vậy, cùng một tiếng khóc, nhưng nông, sâu cũng khác nhau xa lắm. Chúng ta hãy đọc lại hai đoạn trích dưới đây, để thấy tiếng khóc của Chế Lan Viên lặn vào trong, khác với tiếng khóc của Tố Hữu như thế nào nhé:
“Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau
Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu
Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ
Cho hôm nay và cho mai sau…“ (Tố Hữu)
“Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin“ (Chế Lan Viên)
Đến với đảng, Chế Lan Viên không chỉ học và viết được những lời ngợi ca, tụng ca, mà ông còn biết chửi. Tiếng chửi của ông đanh đá, và chua ngoa, không khác mấy bà già quê vén váy quay cuồng, khi bị mất cắp gà. Hai đoạn trích dưới đây trong bài Hoa hồng trong bệnh viện và Tiếng hát của thằng điên trong Dinh Độc Lập, được in trong tập Ánh Sáng Và Phù Sa. Nhưng tôi nghĩ, nó hoàn toàn không phải là thơ:
“Bọn giặc chó miền Nam, bay đã uổng!
Cắt thịt da ta, không cắt nổi nụ cười!
Cả chế độ miền Nam bay sụp xuống
Khi thành đồng đã đến lúc vươn vai

Bắt lấy con chó điên trong dinh Độc Lập!
Bắt lấy con thú điên trong dinh độc lập!
Bắt cả tớ thầy treo lên cành cây
Thằng Diệm chết. Thằng Mỹ thì cút ngay“
Có hai câu thơ kết trong bài Cho Uống Thuốc:“Bên ni biên giới là nhà/ Bên kia biên giới cũng là quê hương” được Chế Lan Viên viết khi đang chữa bệnh ở viện lao của Trung Quốc vào tháng 6- 1954. Bài thơ này, ông viết tặng cô y tá, trước khi về nước, tỏ lòng tri ân, vì đã được chăm sóc ân cần như người ruột thịt. Dù ở Trung Quốc mà cho ông cảm giác như đang ở Việt Nam với gia đình, quê hương làng xóm vậy. Và cái cảm giác ấy, xuyên suốt cả bài được tổng kết bằng hai câu thơ trên. Tuy nhiên, muốn hay không trong giai đoạn đó, cũng buộc Chế Lan Viên phải lồng chính trị, bằng hình ảnh bác Hồ, bác Mao của ông vào bài, nhưng đó chỉ là bên lề. Do vậy, có một số người đọc đã hiểu lầm, hoặc chỉ đọc hai câu kết này, rồi kết luận, chụp mũ Chế Lan Viên bán nước. Kinh hơn nữa, nhiều người còn cho rằng, hai câu thơ trên của Tố Hữu, và cứ dựng ba đời nhà ông ấy ra chửi. Viết ra điều này, không có có nghĩa là tôi binh che, hoặc bới móc. Bởi, cuộc sống hay trong văn thơ cũng vậy, viết, hoặc đánh giá rất cần có một sự sòng phẳng.
Có thể nói, Chế Lan Viên là người ham đọc và nghiên cứu. Đến với Ánh Sáng Và Phù Sa ông mở rộng đối tượng, không gian sáng tạo, cũng như  thay đổi hoàn toàn thi pháp. Tuy được nhuộn đỏ tâm hồn, nhưng tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa vẫn chiếm vị trí quan trọng trong thơ ông.
Thật vậy, tuy mang tính thời sự, nhưng Tiếng Hát Con Tàu là bài thơ trữ tình hay và điển hình nhất của Chế Lan Viên vào những năm đầu hòa bình. Và cùng với Lên Miền Tây của Bùi Minh Quốc, bài thơ này đã góp phần không nhỏ kêu gọi, minh họa cho phong trào khai hoang kinh tế, tàn phá rừng đầu nguồn Tây Bắc của đảng, dẫn đến những cơn lũ kinh hoàng, gây bao tang tóc cho đất nước con người.
Ngay đầu thập niên sáu mươi, dường như ít nhiều Chế Lan Viên đã chịu ảnh hưởng thi ca Nga, đặc biệt phương pháp luận làm mới, lạ hình tượng trong sáng tạo của Mikhail MikhailovichBakhtin. Từ những lẽ đó, ta bắt gặp hình ảnh so sánh, liên tưởng độc đáo không chỉ xuyên suốtTiếng Hát Con Tàu, mà còn trên cả thi tập Ánh Sáng Và Phù Sa:  
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.”
Nếu ở Điêu Tàn, ma quỷ sọ người lơ lửng cùng Chế Lan Viên dắt nhau vào cõi hư vô, thì đến Ánh Sáng Và Phù Sa, bằng biện pháp tu từ so sánh ấy, đã kéo ông trở về với cõi thực, cõi của con người. Và sự kết nối giữa tư tưởng và nghệ thuật đó đã mở ra trong thơ Chế Lan Viên:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
Cảm xúc là điều cần cho một thi sĩ, nhưng mở ra được những suy tưởng, để rồi cô lại thành những triết lý đưa vào trang thơ, quả thật không phải ai cũng làm được. Đọc Ánh Sáng Và Phù Sa, ta có thể thấy tính triết lý đan vào trong mỗi câu thơ Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Và từ đó, nhà thơ đã nhìn ra tính triết lý, qui luật tình yêu, nằm trong mối quan hệ mật thiết giữa vụ trụ và con người. Khoảng Cách là một bài thơ như vậy, và nó như được chiết ra từ trí tuệ bậc thày của Chế Lan Viên. Đôi khi đọc nó, tôi cứ ngỡ là định luật trong vật lý, toán học vậy:
Khi em xoay lưng lại với anh                                                                                
Hai đứa cách nhau một vòng quay trái đất
Khi hai đứa mắt đã soi trong mắt
Thì không gian còn khoàng cách nào đâu”
Dường như Chế Lan Viên viết thơ tình không nhiều? Có thể nói, cùng với Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, Ông Đồ của Vũ Đình Liên, Em Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, và Khi Chưa Có Mùa Thu của Trần Mạnh Hảo… Tình Ca Ban Mai của Chế Lan Viên là một bài thơ tình hay nhất ở thể ngũ ngôn của thi ca đất Việt. Ngoài cấu trúc chặt chẽ, với cặp đôi và khoảng cách cân xứng, ta còn thấy Tình Ca Ban Mai có từ ngữ sang trọng, sáng và đẹp. Và vẫn phép hình tượng so sánh làm cho bài thơ e ấp, ẩn chứa mà lung linh đến kỳ lạ. Với tôi, đây là bài thơ toàn bích nhất của Chế Lan Viên được viết trong thời gian này:
“Em đi, như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
Em về tựa mai về
Rừng non xanh lộc biếc
Em ở, trời trưa ở
Nắng sáng màu xanh tre
Tình em như sao khuya
Rải hạt vàng chi chít
Sợ gì chim bay đi
Có thể nói, giai đoạn từ sau 1945 đến khoảng những năm gần cuối của cuộc đời, tâm hồn của thi sĩ Chế Lan viên được ngăn đôi. Bên thì đanh đá, chua ngoa, bên thì nhẹ nhàng, sâu thẳm. Âu đó cũng là cái mâu thuẫn chung của các văn sĩ chỉ được phép đi trên một con đường đã vạch sẵn vậy.
*Lời sám hối muộn màng.
Tôi tin rằng, sau Nhân văn giai phẩm, và nhất là sau 1975 một con người nhạy cảm như Chế Lan Viên, chắc chắn đã nhận ra cái cùng đường tịt lối của đất nước, cũng như thân phận bèo nhèo, bạc nhạc của người cầm bút. Và nếu đi chệch đường rày, vượt ra khỏi cái vạch chỉ đường, thì khoảng cách đến với con ma Hời rất gần. Không vượt qua được cái dạ dày và một chút đặc quyền, danh vọng, nên Chế Lan Viên vẫn cần mẫn làm cái loa phường cho đến những năm hưu trí cuối đời. Âu đó cũng là chuyện thường tình của con người.
Theo cách nói của dân chè chén vỉa hè, Di cảo thơ chủ yếu ra đời khi Chế Lan Viên đã hết đát, trở về với nồi cám heo của mình. Và ông cũng là người mở đường cho những Nguyễn Đình Thi với Gió Bay, Nguyễn Khải với Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất sau này. Tuy có chút muộn màng, nhưng đó cũng là điều đáng kính, đáng trọng, không phải văn nghệ sĩ nào cũng đủ can đảm làm được.
Di cảo gồm bốn phần chủ yếu ghi về những điều vụn vặt, nhưng mang triết lý sống như răn mình, răn đời vậy. Đọc nó, dường như cho ta cảm giác Chế Lan Viên đang đi gần đến Phật pháp, cởi mở tâm hồn hơn. Tuy nhiên, với tôi, có bốn bài giá trị, làm rung động lòng người nhất: Chiếc bánh vẽ, Ai Tôi, Trừ đi, và Tháp Bay-on bốn mặt. Có thể nói, đây là bốn bài thơ không chỉ là lời sám hối, mà còn là những lời cáo trạng của Chế Lan Viên ở giai đoạn cuối đời. Có nhà phê bình cho rằng, viết xong những tác phẩm này, ông đã trút được gánh nặng mang trong mình từ mấy chục năm qua. Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Làm gì nhẹ nhàng, và dễ dãi đến thế, chí ít là đối với Chế Lan Viên, khi đang quay trở về làm người thi sĩ đích thực. Tuy nhiên, tôi nghĩ, trong giai đoạn cuối đời này, chế Lan Viên chưa bốc hẳn được con ma Hời, ma xó thứ hai này ra khỏi linh hồn, nhưng ít nhất ông tự thú nhận ra bản chất, và cũng có thể sẽ đi đến đoạn tuyệt với nó.
Những câu hỏi và tự trả lời này, không phải đến khi Chế Lan Viên viết Ai Tôi? mà có lẽ nó luẩn quẩn trong ông từ bấy lâu rồi. Và lời độc thoại ấy là một trong những thủ thuật, Chế Lan Viên làm cho người đọc thoạt tưởng như một lời thú tội của riêng mình. Nhưng đằng sau nó là sự vạch mặt, phơi bày tội ác của những kẻ quyền hành cao nhất đã gây ra chiến tranh và trận chiến Mậu Thân này. Bởi, ai cũng có thể hiểu rằng, cá nhân người thi sĩ không quyền lực trong và sau cuộc chiến, dám đứng lên nhận trách nhiệm, thì nhân cách nào cho những kẻ có quyền lực cao nhất?
Vâng! Đó là cái tát rất hiếm hoi vào mặt những kẻ có trách nhiệm vào thời điểm đó của Chế Lan Viên, cũng như bộc lộ lòng nhân đạo của con người đối với con người:
“Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm còn sống sót có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó ?
Tôi !
Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi lúc xung phong

Một trong 30 người khi ở mặt trận
về sau mười năm
Ngồi bán quần trên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy mọi chỗ
Chả Huân chương nào nuôi được người lính cũ !
Ai chịu trách nhiệm vậy ?
Lại chính tôi!…”

Giai đoạn này Chế Lan viên chủ yếu viết theo thể tự do, ông để những câu thơ chảy theo những cảm xúc tự nhiên của mình. Trừ Đi là một bài thơ hay và tôi thích nhất trong thời gian này của Chế Lan Viên. Ông thẳng thừng xổ toẹt tất tần tật những thứ thơ văn bồi bút của mình, bởi:“Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!/ Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười”. Nhìn vào chiều dài lịch sử văn hóa Việt, ta có thể thấy: Với người Việt, làm ra lỗi thì dễ, nhưng nhận lỗi thì khó lắm thay. Ba mươi năm trước Chế Lan Viên sám hối, nhận lỗi và xổ toẹt như vậy, quả thật là một sự dũng cảm. Và tuy ông viết cho hậu nhân mà như thể răn lòng mình vậy:
“Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu ? Một nửa
Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!
Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười,
Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ.
Tôi giết cái cánh sắp bay…
trước khi tôi viết
Tôi giết bão táp ngoài khơi
cho được yên ổn trên bờ…”
Dù Chế Lan Viên có tự ví mình la Tháp Bay-on bốn mặt, hoặc muôn mặt đi chăng nữa, ta cũng chỉ nhận ra một thi sĩ đích thực Chế Lan Viên và một Chế Lan Viên gác cửa văn hóa văn nghệ của đảng, khác nữa mà thôi. Và chính Di cảo thơ của ông đã cho tôi thêm cảm hứng viết bài này. Nói dại, nếu Chế Lan Viên không có những Di cảo thơ cuối đời này, thì ông mãi mãi là kẻ gác cửa, thì chẳng đáng tiếc cho một thiên tài lắm sao.
Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của Chế Lan Viên được chia thành ba giai đoạn: Phong trào thơ mới, cùng với thi tập Điêu Tàn, đến cầm canh gõ nhịp, tụng ca, minh họa từ sau 1945, và những Bản cảo sám hối đã và chưa được xuất bản. Ba giai đoạn ấy, cũng là ba tiếng khóc bi – bỉ – hận trong thơ cũng như con người Chế Lan Viên.
Tôi viết bài này, theo đề nghị của ông bạn thời trẻ trâu. Hắn được học hành đến nơi đến chốn, và đang giảng dạy văn học hiện đại ở một trường đại học. Trên bốn chục năm không gặp, hôm rồi vô tình hắn đọc được bài viết về nhà thơ Đinh Hùng, và Vũ Hoàng Chương của tôi, rồi nhận ra nhau qua Fb. Hắn bảo, vẫn đang nghiên cứu về thơ tiền chiến, nếu được tôi viết một bài về Chế Lan Viên, xem đánh giá, suy nghĩ của người Việt ở nước ngoài như thế nào. Giời đất, một kẻ cả ngày úp mặt vào chảo như tôi, mà phải để ông Phó quan tâm thế này. Được thôi, nhưng tôi đọc thật, viết thật đấy, có khi xát ớt vào đít nhau thì bỏ bà. Tôi trả lời vậy. Hắn cười bảo, rất cần như thế…
Và trên đây là những suy nghĩ chủ quan của tôi về nhà thơ Chế Lan Viên, có thể không đúng. Nhưng dù sai hay đúng, tôi hy vọng, nó đóng góp được một phần nào đó, để làm sáng tỏ chân dung một nhà thơ tài năng và cũng đầy mâu thuẫn này.
Leipzig ngày 27-3-2017
Đỗ Trường
------------------------------------------------------------------------------------------
Cảm ơn cụ Nguyên Hân đã sưu tầm gửi cho bài viết tham khảo này

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Trumpcare thất bại từ vòng gửi xe

Trumpcare tịt ngòi !!!
Vào phút chót ngày thứ 6, Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ, Paul Ryan, sau khi thảo luận với TT Trump đã rút dự luật được gọi là Trumpcare nhằm thay thế Obamacare ra khỏi chương trình nghị sự.
Như vậy Obamacare tiếp tục tồn tại và Trumpcare không vượt qua vòng gửi xe.
Paul Ryan không dám đưa ra bỏ phiếu vì chắc chắn đảng Dân chủ chống nhưng nội bộ đảng Cộng hòa cũng lục đục.
Có tới 30 đại biểu Cộng hòa tuyên bố không đồng ý, mà phần đông số này đến từ lực lượng bảo thủ cực hữu tại Hạ viện có tên là Freedom Caucus. Nhóm này cho rằng, dự luật mới chưa đủ mạnh để đánh bạt Obamacare.
Một số thành viên khác sợ rằng, nếu hàng triệu người bị mất bảo hiểm do luật mới, năm 2018 có bầu cử giữa kỳ, cử tri địa phương sẽ “trảm” họ bằng lá phiếu.
Ủng hộ hay không phụ thuộc vào dân địa phương nơi đại biểu sinh sống có hưởng lợi từ luật mới chứ không phải lời kêu gọi đoàn kết xung quanh đảng và TT Trump. Đó là cách mà cử tri và đại biểu nói chuyện với nhau về những điều thiết thực của cuộc sống.
Người nước ngoài khó mà hiểu bảo hiểm y tế của Hoa Kỳ vì rất rắc rối. Tôi ở đó hơn chục năm mà cũng chịu. Chỉ nhớ lúc về hưu, bên hưu trí nói là tôi có thể giữ bảo hiểm cho hai ông con tới tuổi 26, đây là một lợi thế lớn. Bên Mỹ không có bảo hiểm coi như đời toi.
Obamacare được coi là thành tựu đáng kể nhất của đàng Dân chủ và TT Obama với 8 năm trong Nhà Trắng, giúp thêm 30 triệu người có bảo hiểm y tế mà đa số là người nghèo. Một trong những điều luật quan trọng ai cũng phải mua bảo hiểm nếu không sẽ bị phạt.
Chính quyền liên bang “bao cấp” thông qua thu thuế và người đóng bảo hiểm phải trả giá cao hơn. Như vậy người giầu giúp người nghèo, và người khỏe giúp người yếu, một tư tưởng giống XHCN.
Dự thảo luật y tế mới của TT Trump và đảng Cộng hòa xóa bỏ “bao cấp”, tiền bảo hiểm đưa về các tiểu bang, dường như người nghèo bị bỏ rơi. Giỏi mới đáng sống, nghèo, dốt, lười cho chết luôn. Ước tính sau chục năm, Trumpcare sẽ làm cho 20 triệu người không có bảo hiểm, chính sách nghiêng về ủng hộ người giầu.
Đảng Cộng hòa luôn có truyền thống ủng hộ người giầu, giảm thuế cho người giầu. Đảng Dân chủ ngược lại, tăng thuế lớp trung lưu, kiểu lấy của người giầu chia cho người nghèo. Một anh lên tìm cách cắt chi phí (cut), anh kia lên tìm cách kích cầu (stimulus) để tiêu tiền.
Lời hứa bãi bỏ Obamacare đã đưa Trump vào Nhà Trắng cũng giống như Obmacare giúp Obama ngồi ở đây 8 năm. Chính trường nước Mỹ luôn thay đổi.
Bãi bỏ Obamacare được Trump ký ngay vào ngày đầu tiên và dự định bỏ phiếu vào thứ 6 kỷ niệm đúng 7 năm ngày Obamacare được thông qua và thành luật. Không thông qua được tại Hạ viện là một cú mất mặt của Trump và đàng Cộng hòa.
Lệnh ban nhập cư hai lần bị thẩm phán liên bang chống, xây tường biên giới Mexico chưa biết lấy tiền ở đâu, cải cách thuế còn mù mờ và khó hơn nhiều với luật y tế mới. Bỏ TPP và biết hậu quả còn phải đợi thêm thời gian.
Cố vấn an ninh quốc gia bị đuổi việc sau vài tuần trong Nhà Trắng. FBI đang điều tra vụ liên hệ Nga – Trump trong bầu cử. Jeff Sessions, bộ trưởng Bộ Tư pháp, bị coi là nói dối. Bộ Ngoại giao từ khi có thủ trưởng mới không hề họp báo.
Bản thân TT nói như Cuội trên mặt trăng tán chị Hằng. Để tránh tin đồn liên hệ với Nga, ông ta đã vu cáo TT Obama nghe trộm. FBI và các bên an ninh đều nói không có chuyện đó nhưng Trump không xin lỗi. Chả hiểu Hoa Kỳ đang đi về đâu.
Nếu dự luật được thông qua mà làm cho 20 triệu người mất bảo hiểm thì TT không kéo dài quá một nhiệm kỳ và đảng Cộng hòa cũng hết kiểm soát Thượng viện và Hạ viện.
Và dự luật không thông qua thì cử tri cũng tự hỏi, không hiểu những người ăn hại tiền thuế của dân, đi Air Force One sang trọng, mất vài triệu cho cuối tuần về Florida để đảm bảo an ninh, mà có cái dự luật y tế không xong, thì có nên ngồi ghế. Câu trả lời sẽ có vào tháng 11-2018 khi bầu cử giữa kỳ sẽ lựa chọn đảng nào.
Trong khi ấy Trump tiếp tục véo von trên Twitter vào 3 giờ sáng từ Nhà Trắng, tha hồ đổ lỗi cho người khác chứ nhất định Donald Trump là tuyệt vời như thời ông đi tranh cử “We are going to win, win and win big – chúng ta sẽ thắng, thắng và thắng lớn”
HM. 25-3-2017


Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

TẾT Đ0ÀN VIÊN

Cảm ơn 3 bạn (Nhật Lệ , Song Thu và NN Hùng)" thủy chung " với Blog Calathau, không bỏ rơi mõ Làng đang sống trong "cô đơn" , tưởng như không còn hàng xóm láng giếng nhòm ngó tới nữa. 
Cũng xin nói thêm để các bạn rỏ. 4 cháu nội của tôi do vợ chồng 2 thằng con trai sinh ra. Thằng em đẻ sau thằng anh (tất nhiên), nhưng lại lấy vợ trước thằng anh và cứ thế con thằng em (1 gái , 1 trai), lần lượt ra đời trước 2 đứa con thằng anh (1 trai, 1 gái), cách nhau vài tháng rất "nhịp nhàng". Cháu Lucy (em là Cu Tý) đều sinh ra là lớn lên ở nước ngoài (Sydney- Úc), tiếng Anh giỏi hơn tiếng Việt. Còn Cu Bi ( em là Tí Ti) thì sinh tại Việt Nam, tiếng Việt giỏi hơn tiếng Anh! 
Tết Đinh Dậu vừa rôi mẹ con nhà Lucy-Cu Tý bay về Việt Nam ăn Tết với ông bà ngoại ngoài Hà Nội, sau đó vào Sài Gòn chơi vơi ông nội và gia đình nhà Cu Bi- Tí Ti












 

TẾT ĐINH DẬU (Thứ 7. 28/1/2017) CHÁU ĐẾN XÔNG NHÀ



 






Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

Valentine- Ngày tình nhân và "Nụ hôn" Mùa xuân vĩnh cửu

Bắt gặp trên mạng ảnh bức tượng "Nụ hôn" ( Còn có tên "Mùa xuân vĩnh cửu")  chợt nhớ ngày 14/2 - Ngày Tình nhân "Valentine". Góp chuyện với cả nhà vài điều mình cóp nhặt được trên mạng xã hội xung quanh bức tượng nổi tiếng này và cha đẻ của nó- điêu khắc gia người Pháp Auguste Rodin .

 The Kiss (Nụ hôn)
Ngày tình yêu 14/2 không thể không nhắc đến tác phẩm điêu khắc kinh điển “Nụ hôn” (The Kiss) của Danh họa Pháp Auguste Rodin (1840-1917). Giới họa sĩ , các nhà phê bình cũng như người thưởng ngoạn đã tốn biết bao giấy mực để ca ngợi bức tượng này !  Cuối năm ngoái (2016) “ Nụ hôn” lần đầu tiên được ra khỏi Châu Âu, sang Sydney, chiếm vị trí “đinh” tại một cuộc triển lãm chuyên để về các tác phẩm tạo hình đề tài khỏa thân gây tiếng vang lớn.
“Nụ hôn” là tác phẩm ghi lại giây phút rất cá nhân , rất đắm say giữa đôi trai gái, và điều thiên tài của Rodin qua tác phẩm là nụ hôn thực tế được khéo léo che khuất bởi chân tay và thân thể của các nhân vật,” Paton – Nhà sưu tầm và tổ chức triển lảm nói. Rodin thể hiện sự kết nối thân thể và cảm xúc mạnh mẽ giữa hai người yêu ở nhiều chi tiết : những cơ bắp gợn sóng ở lưng họ, cách mà chân họ kê lên nhau, và bàn tay họ. Paton cho rằng tay của cặp đôi này là đáng chú ý nhất. “Tay họ có vẻ tương đối lớn hơn so với tỷ lệ của người. Khi ta đang yêu nhau và khi ôm ấp người đó thì xúc giác được tăng cường,” ông giải thích. “Rodin đã thâu tóm những cảm giác này bằng cách gợi ta chú ý tới các bàn tay của nhân vật!”.
Auguste Rodin (1840-1917)

Cũng có nhà nghiên cứu viết hận xét t: Bức tượng “Nụ hôn” độc đáo ở chỗ làm toát ra sức mạnh nội tâm và đậm tính hiện thực. Rodin đã tạo nên một kiệt tác hoàn mỹ ở mọi góc độ. Ông cho các nhân vật khỏa thân để không gì chen vào cảm xúc thật, điều ông muốn người xem nhận thấy ngay khi chiêm ngưỡng tác phẩm. Dù cả hai nhân vật đều khỏa thân nhưng nhờ kỹ thuật tạo tác kỳ tài, cảm xúc mà họ mang đến là khát khao bị ngăn cấm, là tình yêu vô cùng trong sáng, không mang nặng khoái cảm nhục dục.
Vâng, “Nụ hôn” không chỉ truyền cảm hứng cho các thế hệ họa sĩ, điêu khắc gia mà còn trở thành biểu tượng vĩnh cửu về tình yêu đôi lứa. Đó là một trong những hình ảnh chân thực nhất về tình yêu trong lịch sử nghệ thuật. Chả thế mà sau này người ta còn đặt tên cho bức tượng là “Mùa xuân vĩnh cửu”!
Ấy vậy có lẽ cũng ít ai biết khởi đầu hình tượng cặp đôi này chỉ là 1 chi tiết được Rodin mô tả như một mối tình bất chính đặt trong tác phẩm đồ sộ “Gates of Hell” (Cổng Địa Ngục) của ông. Hai nhân vật có tên tuổi, có điển tích được ghi chép vào sử sách: Cô gái là Francesca da Rimini (con gái của Chúa tể vùng Ravenna – Ý) cùng nhân tình – người em ruột của chồng cô. Khi đôi tình nhân nhận ra tình yêu dành cho nhau, sắp trao nhau nụ hôn đầu thì bị chồng của Francesca phát hiện và giết chết. Đó là lí do vì sao 2 nhân vật được khắc trên bức tượng dù ở rất gần nhưng thực chất không hề chạm môi nhau.
"Nụ hôn" trong gian trưng bày  các tác phẩm của Dodin ở Pari
Tác phẩm đến với công chúng lập tức có đời sông riêng, và cha đẻ của nó đã tách 
“Nụ hôn” ra thành một 1 tuyệt phẩm điêu khắc độc lập như chúng ta thấy ngày này trong bảo tàng Rodin ở Pari thủ đô nước Pháp !


Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Tướng Hưởng nói về ông Trump và trật tự thế giới

BBC. (3 tháng 2 2017)  

Ông Hưởng
      Lần đầu tiên một cựu lãnh đạo cao cấp của ngành công an Việt Nam nêu các nhận định chiến lược về nhiệm kỳ Tổng thống Donald Trump và đặt ra các câu hỏi liên quan tới khu vực.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Bộ Công an cho đến tháng 3/2013 có bài đăng trên trang Tuần Việt Nam (VietnamNet 03/02/2017) đánh giá tổng quan rằng:"Chỉ trong 10 ngày sau khi nhậm chức Tổng thống, Donald Trump đã gây chấn độngchính trị quốc tế.". "Chắc chắn ông Trump không dừng bước."
Theo Thượng tướng Hưởng, người cũng giữ chức Phái viên Tư vấn cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về an ninh và tôn giáo sau khi rời Bộ Công an, "Thế giới phương Tây đang đứng trước những xung đột nội tại vô cùng lớn, làm nảy sinh xu hướng dân tộc biệt lập" . Ông tin rằng Trump và Brexit tức quá trình Liên hiệp Vương quốc Anh rời EU "chỉ là điểm khởi đầu"

Riêng về Tổng thống Donald Trump, Tướng Hưởng nhận xét:"Ông ta sẽ tiếp tục làm những lời ông từng tuyên bố, nếu điều đó xảy ra thì thế giới đang ở bước ngoặt lớn của lịch sử, chủ nghĩa dân tộc biệt lập đang phục hồi ở các nước phương Tây xuất phát từ những thất bại của những định hướng chiến lược của chủ nghĩa tư bản diễn ra ở Mỹ và Liên minh Châu Âu, để nhường chỗ cho khuynh hướng lấy lợi ích quốc gia là tối thượng." 

 Từ Trump đến Tập Cận Bình 
 Thời gian qua, giống như nhiều lãnh đạo châu Á đang còn xem xét tình hình Hoa Kỳ dưới nhiệm kỳ của ông Trump, các lãnh đạo đương chức tại Việt Nam cũng ít lên tiếng về tân tổng thống Mỹ.Trang . Nikkei Asian Review cho rằng ngoài những phát biểu mang tính "ăn theo" cùa Tổng thống Philippines Rodrigo Duterter, người duy nhất lên tiếng bác bỏ chính sách cô lập và bảo hộ mậu dịch của ông Donald Trump là Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. .Cùng lúc Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước đầu tiên được bộ tham mưu mới của Tổng thống Donald Trump tiếp xúc chính thức và cam kết duy trì liên minh quân sự. Các quan chức Việt Nam cho đến nay chỉ nói về chuyện tìm cách ứng phó trước quyết định của ông Trump rút ra khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP. 

         Một loạt lãnh đạo cao cấp của Việt Nam cũng sang thăm Trung Quốc đầu năm 2017 nhưng hiện chưa có dấu hiệu gì là quan hệ Washington - Hà Nội tiến triển hơn trước, thậm chí có vẻ như còn chững lại. Nhà quan sát Việt Nam, Giáo sư Carl Thayer từ Úc có bài hôm 03/01/2017 trên VietnamNet bản tiếng Anh cho rằng:"Việt Nam cần chủ động hơn ở Washington nhằm tìm lối vào tiếp xúc với Chính quyền Trump và tìm kiếm đảm bảo về hướng đi tương lai của quan hệ song phương..."

       Tổng thống Donald Trump đã ký nhiều chính sách mới kể từ khi tuyên thệ nhậm chức hôm 20/1/2017 Nhưng về tầm khu vực, bài viết của Tướng Nguyễn Văn Hưởng có thể là phát biểu công khai và rõ rệt nhất từ Việt Nam nêu ra quan ngại rằng nếu Hoa Kỳ suy yếu thì Trung Quốc sẽ vươn lên."...Ta phải thấy một vấn đề là khi Mỹ và phương Tây suy yếu, Trump đang thực hiện xây dựng nước Mỹ hùng mạnh trở lại, thì Trung Quốc sau hơn 30 năm trỗi dậy đã trở thành một cường quốc có tầm ảnh hưởng quốc tế quan trọng, cạnh tranh với Mỹ và tư bản phương Tây."Tướng Hưởng đặt câu hỏi, "trước bối cảnh quốc tế diễn ra, Brexit ở Anh và Trump ở Hoa Kỳ, Trung Quốc sẽ đóng vai trò như thế nào đối với trật tự quốc tế?" Ông nêu ra cảnh báo: "Các nhà nghiên cứu cho rằng khoảng trống này sẽ là cơ hội cho Trung Quốc gây ảnh hưởng của mình đối với các khu vực, đó là điều tốt hay là mối đe doạ các nước thì cần nghiên cứu tiếp..." "Chắc chắn rằng thế giới sẽ bước vào kỷ nguyên sự tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản sẽ diễn ra không kém phần quyết liệt, trật tự thế giới sẽ không còn như trước nữa"

Việt Nam 'đổi mới nhưng không đổi màu'?. 
Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, sinh năm 1946 ở Quảng Ninh và là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hai khóa.Trước khi làm Thứ trưởng Công an, ông từng nắm Tổng cục An ninh Bộ Công an và là thành viên Ban Chỉ đạo tái cơ cấu tập đoàn Vinashin. Năm 2011, Việt Nam trao tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, cùng với Bộ trưởng Công an Đại tướng Lê Hồng Anh và Trung tướng Bùi Văn Nam.Báo Công an Nhân dân khi đó cho biết phần thưởng này là sự ghi nhận, biểu dương cho nhiều thành tích, trong đó có "chuyên án đấu tranh với tổ chức phản động do các đối tượng Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và Nguyễn Tiến Trung cầm đầu".

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Có những điều GS Ngô Bảo Châu chưa biết

Tác giả: Hà văn Thùy
Đọc bài GS Ngô Bảo Châu bàn về yêu nước trên BBC, giữa chừng thấy chán nên tôi bỏ. Nhưng rồi nhà thơ Đỗ Minh Tuấn chuyển lại với lời nhắn gửi: “Ngô Bảo Châu nói trên BBC là văn hóa Bắc kỳ là bản sao thu nhỏ của văn hóa Trung Hoa… nhưng lại thiếu hiểu biết về văn hóa Việt. Anh viết phản biện đi…” Tôi đọc lại và “bật ngửa” vì những dòng sau:
– Hoá ra cái điểm Việt Nam thân thương không hề là trái tim của nhân loại. Nó nằm ở nơi cùng trời cuối đất.
– Có lẽ vì đất nước của chúng ta nằm ở nơi cùng trời cuối đất mà trong gần hai ngàn năm, nó hầu như nằm bên rìa sự phát triển của văn minh của nhân loại.
.– Người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, văn minh Trung Hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc Bộ.
– Cuộc sống bây giờ đã khác nhiều. Ngay cả những thanh niên nông thôn mà tôi gặp ở sân bay Narita, dù có lẽ họ không có một hệ quy chiếu nào khác ngoài một bộ ứng xử của người nhà quê, mà nền tảng lý luận dường như là một dạng tối giản của văn minh Trung Hoa,
– Cảm giác quan tâm đó đến từ đâu, nếu không phải là khát vọng có ở trong mỗi chúng ta, khát vọng thoát ra khỏi thân phận của một nơi cùng trời cuối đất, gắn vào thế giới bằng một sợi dây lơ lửng buộc vào Trung hoa, thoát ra khỏi cái khung chật chội của Khổng giáo.
GS Ngô Bảo Châu  và ái nữ nguyên TT 3Dũng trong 1 cuộc bán đấu giá sách quý

Bài viết ngắn này xin bàn với Giáo sư đôi điều:
1. Giáo sư đứng ở chỗ nào để nói rằng đất nước chúng ta nằm ở nơi cuối đất cùng trời? Nếu tôi không lầm thì đó là cách nhìn của những nhà thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha thế kỷ XVII. Xuất phát từ quan niệm Âu trung – châu Âu là trung tâm phát sinh văn hóa nhân loại, họ cho rằng người da trắng có sứ mệnh khai hóa các dân tộc man mọi phương Đông. Đến lượt mình, suốt nửa đầu thế kỷ XX, các học giả người Pháp của Viễn Đông Bác Cổ cố công chứng minh chủ nghĩa Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm phát sinh con người và văn hóa châu Á. Đông Nam Á là vùng trũng của lịch sử, không sáng tạo được bất cứ điều gì cho gia tài văn hóa nhân loại. Lớp lớp người Việt được dạy như thế và chúng ta tin như thế.
Nhưng sang thế kỷ này, khoa học nhân loại khám phá sự thực khác hẳn: 70.000 năm trước, con người từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây, sau 20.000 năm chung sống, họ hòa huyết sinh ra người Lạc Việt. Sau đó người Lạc Việt lan tỏa ra các đảo Đông Nam Á, chiếm lĩnh tiểu lục địa Ấn Độ, lên khai phá đất Trung Hoa rồi sang chiếm lĩnh châu Mỹ. Từ khảo sát 5.000 chiếc răng hóa thạch tìm thấy ở châu Âu, khoa học xác nhận: 40.000 năm trước, người Việt cổ từ Đông Á đi qua Trung Á tới châu Âu. Tại đây, họ hòa huyết với người Europid vừa từ Trung Đông lên, sinh ra người Eurasian da đen, là tổ tiên người châu Âu. Trong huyết mạch người châu Âu hiện nay có phần không nhỏ dòng máu Lạc Việt! Không chỉ vậy, ngôn ngữ Lạc Việt cũng để lại vô số di duệ trong tiếng Anh: Water là biến âm cùa Nác; Sand là biến âm của Sạn; People là biến âm của Bí Bầu = người… Khoa học cũng chứng minh rằng, không chỉ văn hóa đá mới Hòa Bình mà người Việt còn mang giống cây trồng, vật nuôi cùng tư tưởng nông nghiệp tới phương Tây. Một sự thực được khám phá: Núi Đọ xứ Thanh là nơi phát tích của phần lớn loài người sống ngoài châu Phi.
2. Phải chăng “Người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, văn minh Trung Hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc Bộ.”?
Ý tưởng này không mới vì cũng như bao thế hệ người Việt khác, nó được dạy từ những nhà Tây học. Nhưng sang thế kỷ này, khoa học cho thấy sự thực trái ngược. Do từ 40.000 năm trước, người Lạc Việt là chủ nhân của Hoa lục nên 93% dân cư Trung Quốc hiện nay là con cháu của người Lạc Việt. Dù mang tên Hoa Hạ hay Hán, họ cũng là hậu duệ của người Việt cổ. Từ năm 1992, di truyền học phát hiện: người Việt Nam có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất trong các dân cư châu Á. Điều này có nghĩa, người Việt xưa từng là tổ tiên các dân tộc châu Á! Không chỉ vậy, khoa học cũng khám phá: tiếng Việt là chủ thể tạo nên tiếng Trung Hoa. Chữ tượng hình Giáp cốt văn là do người Lạc Việt sáng tạo. Mọi thành tựu rực rỡ của văn hóa Trung Hoa như kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch… là của người Việt! Tuy nhiên, do sự trớ trêu của lịch sử, người Việt Nam bị xâm lăng mất đất, bị chiếm đoạt văn hóa, lịch sử nên ngộ nhận là mình học nhờ đọc mướn từ Trung Hoa.
3. Gặp những cậu thanh niên xứ Nghệ nhếch nhác ở đất người, cũng như nhiều người khác, Giáo sư Ngô Bảo Châu không hề ngờ rằng, họ là hậu duệ của những người từ thềm Biển Đông lên định cư sớm nhất trên đất Việt Nam. Cái thứ tiếng nói trọ trẹ khó nghe của họ chính là dấu vết của ngôn ngữ Lạc Việt gốc, chẳng những làm nên tiếng nói Việt Nam mà còn là tiếng nói ban đầu của hơn một nghìn triệu người Trung Quốc hôm nay. Điều không dễ thấy là trong tâm hồn họ tiềm ẩn những yếu tố nhân chi sơ của văn hóa Việt…

Không trách Giáo sư vì những điều nói trên còn quá mới mẻ, chỉ được khám phá gần đây. Mong rằng khi biết được sự thật này, Giáo sư sẽ có suy nghĩ chín chắn hơn về con người và đất nước Việt Nam.