Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Các nước đã thoát nghèo, bỏ Việt Nam ở lại?

Các nước đã thoát nghèo, bỏ Việt Nam ở lại?  (Kỳ I )
Tác giả: Trần Văn Tuấn

Để biết được trong quá khứ, một quốc gia ở châu Á, châu Phi hay châu Mỹ Latinh đã từng giàu có hay phát triển văn hóa rực rỡ như thế nào, hãy nhìn vào những gì họ đã làm ra, vốn đã bị các nước đế quốc thực dân cướp đi.
Hãy ghé qua các bảo tàng quốc gia của Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, hay Tây Ban Nha, có thể dễ dàng nhận ra vô số các bảo vật to có, nhỏ có, đến từ Ai Cập, Trung Quốc, Nam Mỹ, v.v. Mỏi mắt tìm cũng khó có thể thấy được một vật dụng dù nho nhỏ có dấu vết của người Việt. Trừ trống đồng Đông Sơn – thời kỳ xa xưa, không có trong sử sách, thì hình như người Việt Nam chúng ta chưa hề làm được bất cứ một sản phẩm nào ra tấm, ra món cả.

Quá khứ – đâu chỉ Việt Nam nghèo
Có rất nhiều nguyên nhân được đưa ra để giải thích cho cái sự nghèo của nước Việt. Trong  đó “văn minh lúa nước” hay văn hóa “làng xã” thường được đưa ra như là một nguyên nhân gốc rễ, luôn được đưa ra để giải thích cho bất kỳ bất cập hay yếu kém của dân tộc ta trong quá khứ.
Công bằng mà nói, trước khi xảy ra cách mạng công nghiệp và sự có mặt của người phương Tây với đầu máy hơi nước thì không chỉ riêng có Việt Nam mà cả châu Á này đều chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp. Đặc trưng của nghề này là phụ thuộc vào thiên nhiên, bấp bênh và hầu như không thay đổi phương thức sản xuất trong nhiều thế kỷ. Trong bối cảnh đó có lẽ trừ nhà cầm quyền và giới quý tộc ra, dân chúng ở đâu cũng nghèo khó như nhau cả.
Trong cái bối cảnh cùng nghèo và lạc hậu ấy, cần khách quan mà nói, người Việt Nam không những được coi là kiên cường sống vững trước các mối đe dọa từ phương Bắc, mà thực tế, đã không ít hơn một lần vươn lên đứng đầu khu vực. Trong ánh hào quang ấy không thể không nhắc tới thời Hồng Đức của Hoàng đế Lê Thánh Tông (1442 – 1497 ) và thời Đai Nam rực rỡ của Vua Minh Mạng (1791 – 1841). Sức mạnh của các thời kỳ này chủ yếu được hình thành nhờ khả năng tập hợp đầy đủ và phát huy hiệu quả các nguồn lực trên cả nước. Đây chính là lúc người Việt chúng ta ít chia rẽ nhất.
người Việt, nước giàu, nước nghèo, kinh doanh, nông nghiệp, công nghiệp

Hơn 7 triệu tấn gạo và vài ba triệu tấn cà phê cùng một ít hồ tiêu xuất khẩu, tạm thời vẫn chỉ giúp chúng ta đủ ăn chứ chưa và có thể nói là làm Việt Nam khả dĩ trở nên giàu có! Ảnh minh họa
Chính cái nghèo về vật chất đã không cho phép cha ông chúng ta  duy trì được lợi thế quân sự lâu dài sau mỗi lần động binh bên ngoài lãnh thổ, và vì cái nghèo mà người Việt phải chấp nhận bỏ đi những cơ hội vốn có thể giúp dân tộc này thay đổi về chất (một khi lượng đủ) để tiến lên một tầm cao mới, với cơ cấu đa dạng và phức tạp hơn của nền kinh tế cùng hệ thống quản trị.
Trừ Nhật Bản, do không bị phương Tây đô hộ và đã tận dụng cơ hội để canh tân đất nước để trở nên hùng mạnh ngay từ đầu TK 20, các nước Á châu còn lại, kể cả Trung Quốc đều nghèo khó và tăm tối trước khi thế chiến thứ II kết thúc vào năm 1945.

Hiện tại – chỉ mỗi chúng ta nghèo
Như vậy việc đem quá khứ nghèo túng của ông cha ra để đổ lỗi cho cái nghèo hiện tại có vẻ không được thuyết phục cho lắm. Thay vào đó, chúng ta hãy nhìn thẳng vào bản chất của vấn đề và tìm hiểu xem tại sao Việt Nam vẫn chưa thể thoát nghèo!
Chiến tranh liên miên đúng là đã khiến dân tộc chúng ta mất đi nhiều cơ hội để phát triển, nhưng đó không thể là lý do muôn thuở khi nó đã đi qua cả vài thế hệ.
Cho dù đã có được những thành tựu ấn tượng trong lĩnh vực nông nghiệp trong vài chục năm trở lại đây, nhưng hơn 7 triệu tấn gạo và vài ba triệu tấn cà phê cùng một ít hồ tiêu xuất khẩu, tạm thời vẫn chỉ giúp chúng ta đủ ăn chứ chưa và có thể nói là làm Việt Nam khả dĩ trở nên giàu có!
Gần 300 năm trước, Lê Quý Đôn đã nhìn ra được các thành tố cốt lõi của một nền kinh tế – khi ông nói “phi công bất phú, phi thương bất hoạt”. Không rõ có phải bởi vì những gì ông nói “sâu sắc” quá hay không mà suốt 300 năm sau đó, người Việt vẫn một mực trung thành với nghề nông. Lần lượt các triều đại sau này đều lấy sự ổn định (kể cả trong nghèo túng) làm trọng mà phớt lờ thương mại. Có phải vì sợ dân chúng “hoạt bát” quá(!)
Khác với phương Tây, chúng ta thiếu hẳn một nền công nghiệp nền tảng. Khi hội nhập trở lại, những gì Việt Nam biết về công nghiệp có thể nói là một con số không tròn trĩnh. Đầu tư trong lĩnh vực này vừa tốn kém, vừa vất vả lại vừa đọng vốn, nhưng lợi nhuận lại thấp và rất lâu giàu.
Sự hoạt bát – vốn được coi là hạn chế ở những nền văn minh lúa nước lại không thiếu trong  những con người Việt thời đổi mới. Không rõ vô tình hay hữu ý, hoặc có lẽ là do khát vọng giàu sang lớn quá, muốn đi tắt, đón đầu, nên người ta đã mạnh dạn thay từ “hoạt” bằng từ “phú” trong câu nói của Lê Quý Đôn.
Thay vì đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm – vốn đa phần đã có mặt khắp nơi trên thế giới do các nước phát triển hơn sản xuất, người nhà mình đã chọn cách dễ hơn, đem lại lợi nhuận lớn hơn và nhanh hơn rất nhiều – đi buôn. Kết quả là chỉ trong hơn 20 năm, Việt Nam đã nhanh chóng chuyển đổi từ một đất nước của nông dân thành đất nước của những doanh nhân.
Trong số gần 500 ngàn doanh nghiệp hiện nay, không khó để nhận thấy số lượng các doanh nghiệp chỉ kinh doanh mà không tham gia sản xuất đang chiếm ưu thế.
(Còn nữa)
————-
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/324380/cac-nuoc-da-thoat-ngheo-bo-viet-nam-o-lai.html
Kỳ II:
Việt Nam sẽ vẫn nghèo dù có thêm nhiều tỷ phú
Tác giả: Trần Văn Tuấn
Việt Nam vẫn sẽ nghèo cho dù có thêm nhiều người giàu “nứt đổ đổ vách”. Một đất nước không thể giàu có một cách bền vững nếu chỉ có xây nhà.
Bản tính người Việt không thích phiêu lưu, mạo hiểm để có thể đóng tàu đưa hàng vượt biển như người Nhật Bản. Chúng ta cũng không có đủ độ nhạy bén trên thương trường của người Trung Hoa. Trong bối cảnh đa phần còn ngu ngơ về thị trường thương mại cũng như không có khả năng tự bảo vệ trong các tranh chấp ngoại thương, dân ta đã chọn cho mình một loại nghề mà họ ít nhiều có chút kinh nghiệm –  buôn tiền, vồn có nguồn gốc từ nghề cho vay nặng lãi.
Sẽ thật là quá tốt nếu nhờ việc buôn tiền này mà những đồng vốn có thể đến được với những nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ có nhu cầu mở rộng kinh doanh. Tiền chỉ thực sự đẻ ra tiền khi nó được sử dụng để làm ra nhiều sản phẩm hơn cho nền kinh tế.
Tuy nhiên nguyên tắc này không phải lúc nào cũng được các thương nhân Việt lắng nghe nghiêm túc. Niềm tin có thật về tiền có thể đẻ ra tiền và đẻ nhiều hay ít không phụ thuộc vào sức khỏe của nền kinh tế vĩ mô mà là vào khả năng huy động vốn và lời hứa của người gom tiền đã khiến cho một lượng vốn không nhỏ bị đọng lại ở những chiếc phantom đắt tiền chạy trên những con phố bụi bặm, thay vì được đầu tư cho xuất khẩu hàng nông sản.

Đối với nhiều người, tài chính, bản thân nó đã thấy có mùi tiền và sự sang chảnh trong đó. Có mấy ai chịu hiểu rằng sự sang chảnh mà họ có đó (ngồi phòng lạnh, đi xe Lexus…) phụ thuộc phần nhiều vào việc người nông dân trồng được bao nhiều tấn gạo, café, hồ tiêu; người công nhân sản xuất ra bao nhiêu tấn xi măng, bao nhiêu đôi giày, may được bao nhiêu cái áo; cũng như có bao nhiêu khu vui chơi, giải trí được xây dựng và vận hành,…
người Việt, kinh doanh, đất nước, kinh tế, phát triển

Tòa nhà Keangnam Hà Nội. Ảnh: VEF

Trong danh sách thống kê về xuất khẩu sản phẩm công nghiệp hàng năm, có thế thấy phần lớn sản phẩm mới là “made in Việt Nam”, rất ít hàng “made by Vietnamese”. Tại sao từ lâu, người Việt đã biết rõ tầm quan trọng của công nghiệp đến sự thịnh vượng và hùng cường của quốc gia, nhưng đến tận bây giờ chúng ta vẫn chưa làm nổi một con ốc vít cho đủ chuẩn?
Hai chữ  “giá như” rất hay được dân ta dùng để nói về các cơ hội bị bỏ lỡ của đất nước. “Giá như nhà Nguyễn chịu lắng nghe và làm theo Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước, phát triển công nghiệp thì vị trí số 1 châu Á ngày nay chắc hẳn …  giá như, và giá như…
Không phải tại tôi, lỗi là do người khác! Không phải tôi kém mà vì họ không biết dùng người. Đổ lỗi cho người khác khiến chúng ta không thể lớn lên được.
Jame Watt sáng tạo ra máy hơi nước trước rồi mới được biết đến và phổ biến rộng rãi, Thomas Edison miệt mài bỏ thời gian và  công sức thử nghiệm các loại vật liệu khác nhau để cuối cùng tìm ra Wolfram làm dây tóc bóng đèn. Những thành tựu kỹ nghệ của Tây phương hầu hết có được đều dựa vào các nỗ lực cá nhân hoặc một nhóm người trước khi chúng được nhà nước biết đến, thừa nhận và ứng dụng rộng rãi.
Đồng ý rằng các thể chế của Tây phương dung hợp hơn, cởi mở hơn, nhưng đó không phải yếu tố tiên quyết khiến cho nền công nghiệp và  khoa học kỹ thuật của họ tiến bộ như ngày nay. Ai dám khẳng định rằng vua Tự Đức sẽ vẫn không nghe và từ chối thử nghiệm công nghệ tây phương và hiện đại hóa nếu khi ấy ngài tận mắt nhìn thấy một mô hình “bóng đèn cháy ngược” trong tay Nguyễn Trường Tộ chứ không phải chỉ được nghe nói và kể lại!
Gạt qua các bất cập về thế chế, có lẽ trong nhiều nguyên nhân khiến Việt Nam đang có một nền công nghiệp gần như zero về mọi thứ, đó là tính sùng ngoại đến mê muội của mọi người.
Việc ông Phạm Nhật Vượng trở thành người Việt đầu tiên lọt vào danh sánh các tỷ phú của Forbes thật sự mang lại nhiều động viên và khích lệ không nhỏ trên đất nước hình chữ S. Có lẽ ai trong chúng ta cũng trông đợi Việt Nam sẽ ngày càng có thêm nhiều người giàu như ông Vượng.
Tuy nhiên sự thành công của nhiều tập đoàn trong nước là nhờ đầu tư vào lĩnh vực bất động sản.

Có lẽ trong tương lai Việt Nam vẫn sẽ nghèo cho dù có thêm nhiều người giàu “nứt đố đổ vách”. Cũng giống như bài học thất bại của Ireland vào năm 2008, một đất nước không thể giàu có một cách bền vững nếu chỉ có xây và xây nhà.
Nhưng bên cạnh việc tạo ra những tòa nhà, to lớn, đẹp đẽ cùng nhiều thứ mới mẻ khác, cái lớn hơn mà nhiều tập đoàn lớn cùng cộng sự đang tạo ra trên đất nước này đó chính là niềm tin – rằng chúng ta có thể làm được những thứ lớn lao hơn nhiều nếu biết chọn cho mình một hướng đi phù hợp, tận dụng được các cơ hội và một không gian để mình có thể phát triển và lớn mạnh hơn.
Cơn sốt Pokemon Go trên khắp hành tinh, sự thành công của Flappy Bird hay thắng thế của  Zalo trên sân nhà đang đem lại nhiều hy vọng hơn cho người Việt. Trong IT (CNTT), chúng ta tuy chưa phải hàng đầu, nhưng không hề ngờ nghệch.
Có chăng Việt Nam đang cần một ít tự tin, quyết tâm chút nứa, và trên hết là tinh thần sáng tạo – thứ không phải  không có, nhưng luôn bị kìm hãm bởi chính chúng ta.
————-

2 nhận xét:

  1. Ở VN hơi nghịch lý: càng nhiều TỶ PHÚ thì dân (LĐ nói chung) càng nghèo. VN chưa thoát nghèo vì VN MẠT nghèo.

    Trả lờiXóa
  2. Bài viết mở đầu bằng câu hỏi VN ta dù có lịch sử lâu đến mấy ngàn năm đã không đóng góp gì cho nền văn minh nhân loại đã kích thích sự tò mò của tôi mong có một kiến giải thỏa đáng vì đây cũng là băn khoăn dai dẳng của tôi từ rât lâu và vì hi vọng vào trí tuệ của tác giả. Tuy nhiên tôi có phần thất vọng vì không thấy kiến giải gì rõ ràng. Rất có thể khi viết bài này tác giả cũng chưa có câu trả lời cho vấn đề đã nêu ra và tác giả viết bài này chỉ vì vẫn còn băn khoăn trước vấn đề chứ không phải là đã có lời giải cho vấn đề đó. Cũng vì thế mà bài viết có phần rời rạc,các ý kiến đua ra không nhằm trúng vấn đề cần lí giải. Cũng phải thôi, vì chính tác giả cũng chưa giám mạnh dạn nói ra cái nguyên nhân chính yếu của vấn đề mà theo tôi là năng lực của dân tộc VN.

    Trả lờiXóa