Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

BÀI ĐĂNG KÝ IN SÁCH CỦA Blogger NGUYÊN NGỌC HÙNG (1)

Hành trình về thăm lại trường xưa 
Tình đất tình người

Đoàn GV và cựu HS QL về thăm trường 8/2008

Tác giả Nguyễn Ngọc Hùng
Một ngày hạ tuần tháng 8.2008, chúng tôi xuất phát từ Thành phố Hồ Chí Minh lên đường thực hiện mục đích đặc biệt là thăm lại những mái trường mà cách nay hơn 50 năm, chúng tôi đã học nội trú ở đó. Có thể nói, nửa đầu tuổi thiếu niên nhi đồng của tôi đã trải qua trên đất nước Trung Hoa. Ký ức tuổi thơ của những năm tháng nhận thức đầu đời đã ghi đậm biết bao điều khó phai trong khuôn viên của những mái trường trên đất bạn hồi ấy.
Bản thân tôi đã trải qua 3 thời kỳ với 3 mái trường khác nhau:
Thời kỳ cuối năm 1953, sau khi đặt chân đến TQ, tôi cùng các bạn được đi tàu hỏa đến Lư Sơn và trải nghiệm những bài học đầu tiên- lớp 1, tại ngôi trường có tòa nhà 6 tầng trên vách núi.
Hết học kỳ 1 đầu tiên, tức là sang đầu năm 1954, toàn thể chúng tôi được chuyển xuống Quế Lâm, vì khí hậu Lư Sơn lạnh giá, băng tuyết phủ kín suốt mùa đông khiến học sinh Việt Nam bé nhỏ gặp nhiều khó khăn trong học tập và sinh hoạt.
Cuối năm 1957, sau khi hòa bình trở lại, miền bắc hoàn toàn giải phóng, bên nước chủ trương chuyển toàn bộ học sinh ở Quế Lâm về nước học trong môi trường bình thường. Tôi mới xong học kỳ 1 lớp 4 được cùng các bạn đồng trang lứa chuyển xuống Khu học xá Nam Ninh để học nốt lớp cuối cấp 1 này. Chúng tôi cũng về nước vào tháng 6.1958- kết thúc 5 năm tuổi thơ trên đất nước Trung Hoa.

Lư Sơn kỳ vĩ - dấu ấn đầu đời
Không hiểu sao, với tôi, Lư Sơn lại sâu đậm hồi ức đến thế?
Có lẽ vì Lư sơn ngày ấy và bây giờ, sau 55 năm trở lại, cảnh vật không thay đổi bao nhiêu, khiến ký ức cứ ùa về như mới xa nhau ngày nào gần lắm.
Khi đến Lư Sơn năm 1953, tôi nhớ là vào mùa thu rồi. Việc đầu tiên là khai tên tuổi và trình độ học để xếp lớp. Tôi thấy nhiều bạn khai sinh năm 1944, thế là tôi cũng nói sinh năm 1944. Quả thực không biết mình sinh năm nào. Đến khi xuống Quế Lâm, tôi nhận được thư nhà, biết là mình sinh năm 1946. Tên nguyên là Nguyễn Ngọc Hùng, nhưng thấy có Đỗ Thế Hùng, nghe hay hay, tôi cũng khai tên là Nguyễn Thế Hùng. Cái tên ấy theo tôi suốt cả thời gian học ở Trung Quốc. Đến khi về nước, năm học 1957- 1958 mới chỉnh lại theo giấy khai sinh gốc. Rồi chuyện học. Tôi thực chưa từng đi học bao giờ. Trước khi đi TQ, tôi ở với mẹ tại Cao Vân, Đại Từ, Thái Nguyên, trong một căn nhà lá đơn độc nép dưới rừng nứa gần đường cái. Mới 7 tuổi, làm gì đã đi học đâu. Chỉ có một anh người Tày nhà gần đấy, đang học lớp 4, dạy cho viết chữ. Tôi còn chưa biết các dòng kẻ trên tờ giấy để làm gì, thế là cứ viết xiên viết xẹo. Chữ viết chưa rành. Chưa hề học làm tính. Vậy mà thấy nhiều bạn khai lớp 2, tôi cũng “lớp 2”. Tuy nhiên, chỉ sau một bài kiểm tra, tôi bị loại ngay xuống lớp 1. Quá may, vì không phải xuống hẳn vỡ lòng! Thế mà đã 55 năm rồi đấy!

Khi xe dừng lại trong thung lũng, chúng tôi nhận ngay ra tòa nhà 6 tầng vẫn y nguyên dáng vẻ bề ngoài của 55 năm trước trên lưng chừng núi. Có khác chăng là dường như rừng cây rậm rạp hơn. Đúng rồi, bởi khi chúng tôi học ở đây, dưới thung lũng còn có một khu đất trống làm sân vận động. Bây giờ, diện tích ấy đã biến thành vườn cây um tùm xen lẫn những bồn hoa rực rỡ. Rừng thông bao quanh tòa nhà dường như cũng ken dày và già dặn hơn xưa.
Có thể hình dung thung lũng trường Lư Sơn xưa như một cái dạ dày dài theo hướng đông- tây. Đường vào duy nhất ở hướng đông. Thung lũng chỉ dài chừng vài trăm mét thì thắt lại ở phía tây, rồi biến lên rừng núi đại ngàn bằng con đường nhỏ. Có lẽ khúc rộng nhất của thung lũng cũng chỉ chừng trăm mét.
Từ lòng thung lũng lên tòa nhà 6 tầng đếm được 82 bậc xi măng. Cứ khoảng 20 bậc lại một chiếu nghỉ rộng rãi, để lấy sức leo tiếp.
Đứng ở chiếu nghỉ trên cùng nhìn xuống khắp thung lũng hẹp, ký ức cứ thế ào về. Đối diện với nhà 6 tầng, hồi ấy nam sinh ngủ ở đó, là khu nhà nữ ở sườn núi bên kia thung lũng. Tôi chưa đến khu nhà nữ lần nào. Nhưng khu nhà ấy liền kề với khu bệnh xá mà tôi đã có dịp lưu lại vì bị sốt cao. Tôi còn nhớ khu nhà ấy cũng ở lưng chừng núi, phải leo lên với nhiều bậc thang, nhưng không cao như nhà 6 tầng bên này. Khu nhà bên ấy không phải chỉ có một tòa kiến trúc, mà gồm một vài kiến trúc ít tầng hơn và nhỏ hơn. Nối các kiến trúc ấy với nhau là dãy hành lang lợp ngói cổ, với những hàng cột sơn son như chốn cung đình. Một dòng suối uốn lượn theo chiều dài của thung lũng, chảy hướng đông- tây. Dòng cuối ấy bám vào chân dãy núi đối diện với khu nhà 6 tầng. Bởi thế, muốn sang khu nhà nữ và bệnh xá thì phải qua một cây cầu đá nhỏ uốn cong. Cây cầu ấy nay vẫn còn. Vẫn dáng vẻ cổ kính như trước, nhưng dường như hoang sơ hơn, vì đã có một cây cầu mới thay thế. Khu nhà 6 tầng và khu nhà nữ đối diện nhau đôi bên hai sườn núi ở cuối thung lũng- phía tây. Còn phía cực đông của thung lũng, bên phải con đường độc độc đạo dẫn vào, là “Đại lễ đường”- nơi tổ chức lễ hội của trường, nhưng công năng chính của kiến trúc này hồi ấy là nhà ăn. Cách đây 55 năm, mỗi ngày 3 lần, chúng tôi xếp hàng theo từng lớp đi từ khu nhà 6 tầng đến Đại lễ đường để dùng bữa. Tôi không thể quên những bữa ăn bình thường hằng ngày của chúng tôi hồi ấy cũng như bàn tiệc. 8 đứa một bàn, thịt cá đầy ắp. Cơm và bánh bao nhân thịt để ở các thùng gỗ lớn, tự do lấy bao nhiêu tùy thích. Đã có trường hợp bánh bao bị rút hết nhân, phần bột bị bỏ lại! Nghĩ lại mà ngậm ngùi, bởi thời ấy, người dân TQ vẫn thiếu đói khốn khó lắm.
Còn có một nhóm kiến trúc gồm 3 tòa nhà 2 tầng ở độ cao thấp hơn, cùng phía với tòa nhà 6 tầng và tạo thành một đường liên kết với Đại lễ đường. 3 tòa nhà này lợp ngói cổ với những đường nét kiến trúc mái như đình chùa. Nửa thế kỷ trước đây, tôi không chú ý lắm đến khu vực này, bởi đó là khu nhà hành chính của trường, nơi làm việc của ban giám hiệu và giáo viên.
Hồi chúng tôi học ở Lư Sơn, toàn bộ kiến trúc trong thung lũng này đều thuộc trường chúng tôi. Nay thì các khối kiến trúc hầu như không thêm, không bớt, không thay đổi dáng vẻ bên ngoài. Nhưng công năng của chúng đã thay đổi và không còn thuộc một chủ quản duy nhất nữa.
Tòa nhà 6 tầng và 3 nhà nối với Đại lễ đường nay đã thuộc quản lý của khách sạn Lư Sơn Đại Hạ. Tòa 6 tầng là khách sạn chính. Toàn bộ kiến trúc bên trong đã sửa đổi. Trước đây, khối 4 tầng phía trước của tòa nhà có một khoảng trống lớn như một “giếng trời” hình chữ nhật ở giữa. Mái của khu này bằng kính, khiến lúc nào trong lòng tòa nhà cũng sáng trưng. Các phòng ngủ của học sinh nam bám sát 4 bên tường nhà. Đứng ở lan can của “giếng trời” có thể nhìn thấu từ trên xuống nền tầng 1. Tôi còn nhớ hồi ấy, một lần đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc- Hoàn Văn Hoan đến thăm trường vào giờ nghỉ trưa. Học sinh đều phải ngủ trưa đúng nội quy. Nhưng chúng tôi nào có thể ngủ được trước “một sự kiện trong đại” cỡ ấy. Thế là đứa nào cũng chăn trùm kín, mắt nhắm nghiền mà vẫn ti hí để nhìn trộm “bác Hoan”. Tôi chưa quên dáng người cao to của vị khách quan trọng bữa ấy, với chiếc áo ban tô màu đen và cả mũ, khăn rất oai vệ.
Nay, toàn bộ bên trong tòa nhà đã biến thành các phòng ốc theo kiểu khách sạn. Có điều là tất cả đều cũ kỹ, khá sập xệ và kém tiện nghi. Gọi là khách sạn 3 sao, nhưng thực tình chỉ đáng một “nhà nghỉ công đoàn” thiếu đầu tư chăm chút.
Tôi vẫn nhận ra đường hầm bê tông bám dọc theo sườn núi bên phải tòa nhà. Đây là “đường ống” dẫn hơi nước từ một lò hơi đặt phía dưới gầm đường bậc thang, lên sưởi ấm cho toàn bộ tòa nhà về mùa đông. Tôi còn nhớ hồi ấy, tuyết không thể đọng lại trên hầm này và chúng tôi thường nằm chơi, sưởi ẩm trên hầm. Nay đường hầm vẫn còn, nhưng chắc đã hỏng và hoàn toàn không sử dụng nữa. Những lỗ thủng khá lớn thấy được bên sườn đường hầm và vẻ xưa cũ, rêu phong của nó như một cái xác già nua không thể gượng dậy.
Ngôi nhà liền kề là Restaurant của khách sạn và 2 tòa tiếp theo dường như là để trưng bày mỹ thuật và hàng lưu niệm. Bên ngoài các tòa nhà này có một số ki- ốt nhỏ bán trang phục, cấp hàm, sao mũ quân đội từ đời Tưởng giới Thạch tới đời Mao Trạch Đông. Có một người tự nhận là giống Tưởng Giới Thạch, mặc áo dài Trung Hoa thời cổ, để du khách chụp hình chung thì phải trả 10 tệ. Thực ra, ông này chỉ có mỗi bộ râu mép và cái đầu “đờ mi” trọc là bắt chước Tưởng Giới Thạch, còn chẳng có nét nào của dung nhan nhân vật đứng đầu Quốc Dân Đảng chống cộng hồi thập niên 40 của thế kỷ trước.
Đại lễ đường nay vẫn dáng vẻ bên ngoài như thế, nhưng công năng của nó đã đổi thay trọng đại hơn. Nơi đây hiện nay là một bảo tàng của Đảng CSTQ, lưu giữ những kỷ vật của một số đại hội đảng và hội nghị BCH TƯ thời MaoTrạch Đông. Tại tiền sảnh của bảo tàng này, xừng xững một pho tượng Mao vàng rực rỡ. Nghe nói khu nhà nữ trước đây nay cũng là một khách sạn du lịch và thuộc quyền quản lý của nhà bảo tàng này.
Toàn bộ thung lũng là một khu rừng lớn, cây cối mướt xanh. Các khối kiến trúc không phải nhỏ bé nhưng cũng trở nên quá khiêm tốn, e ấp thấp thoáng dưới tán cây rậm rì vút cao. Ban mai, khi mặt trời chưa ló lên khỏi đỉnh núi, tiếng ve đã râm ran rộn ràng, hòa cùng dòng suối rì rào và tiếng thông reo, tạo thành một bản nhạc thiên nhiên hiền hòa, ngất ngây, đầy mê hoặc.
Không gian hùng vĩ ấy, những kiến trúc cổ kính ấy, với một người nửa đời trở lại xiết bao thân thương, trìu mến; man mác ký ức xa xăm; tràn đầy cảm xúc hiện tại. Làm sao có thể không tức cảnh sinh lời, Lư Sơn ơi!
Chào trường xưa.
Lư Sơn trường của Ta ơi,
Năm nhăm năm mới có lời chào nhau.
Trải qua bao cuộc bể dâu,
Tình người thế núi đậm sâu vững bền.
(Tại KS Lư Sơn Đại Hạ, sáng 20.8.08)
Chương trình tham quan ở Lư Sơn thì nhiều lắm. Với một chương trình như thế, những người trẻ tuổi cũng chưa chắc đủ sức “hưởng” hết được. Vậy mà đoàn chúng tôi chỉ gồm toàn những cựu học sinh tuổi đã vượt quá lục tuần. Thày Toàn, cựu giáo viên thể dục của Quế Lâm, nay đã 76 tuổi. Bởi thế, nhiều điểm đến có trong chương trình đành phải bỏ. Tiếc nhất là không được trở lại khe núi cao mà hồi còn nhỏ chúng tôi đã đến. Từ trên khe núi cao dựng đứng nhìn xuống một đồng bằng mênh mông, có con sông Trường Giang như một dải lụa mờ ảo và những con tàu như đám lá tre trôi theo dòng nước.

Hồi ấy…
Thung lũng Lư Sơn dường như còn rậm rạp và hoang vu lắm. Nhưng nơi đây cũng đã là một khu vực nghỉ mát cao cấp của giai tầng thượng lưu Trung Hoa. Tòa nhà 6 tầng chúng tôi ở chính là trường quân sự cao cấp của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Bây giờ chúng tôi mới biết gần cửa ngõ của thung lũng còn có nhiều dinh thự, biệt thự sang trọng được xây dựng từ nửa đầu thế kỷ trước, dành cho các nhân vật chóp bu của chế độ Quốc Dân Đảng; và sau này là “của nhân dân”, nhưng chỉ các lãnh tụ ĐCS và nhà nước Trung Quốc mới có quyền sử dụng. Khu dinh thự của Tưởng Giới Thạch vẫn còn và sau này là Mao Trạch Đông và Giang Thanh sử dụng. Có các biệt thự khác do chế độ mới xây dựng, như biệt thự Chu Đức, biệt thự Trần Nghị v.v… Chứng kiến tận mắt cuộc sống được coi là “vương giả” của các bậc đế vương hồi nửa đầu thế kỷ trước, mới thấy chẳng thấm vào đâu với những tiện nghi thượng đẳng ngày nay.
Tôi còn nhớ hồi học ở Lư Sơn, chúng tôi có lần được đi dã ngoại trên núi. Dường như theo đường nhỏ ở cuối thung lũng hẹp đi lên. Đường lên núi hồi ấy đã được xây dựng cho du khách thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ và kỳ thú của Lư Sơn. Con đường bằng những bậc đá, nhỏ, hẹp với lối đi chỉ đủ 2 người né nhau. Lối đi uốn lượn theo sườn núi, len lỏi giữa rừng thông đại ngàn. Thỉnh thoảng lại có các “chiếu nghỉ” là một khu bằng phẳng chỉ chừng trăm mét vuông. Ở đó có một ngôi nhà bát giác, kiến trúc đình chùa, với những cột sơn son, không tường bao và những ghế ngồi đơn giản. Bao quanh nhà nghỉ ấy là một vài bồn hoa luôn rực rỡ sắc màu, có lối đi len lỏi và một vài chuồng thú nhỏ. Đi sâu vào một chút còn có cả rừng hạt dẻ và từng đàn sóc nhảy nhót lao xao…
Cảnh quan hùng vĩ nhất ở Lư Sơn mà chúng tôi đến được lần này là khe núi Cẩm Tú. Quả không hổ thẹn với thanh danh “cẩm tú”! Núi cao, vực sau, khe suối, rừng thông, thác đổ… Thỉnh thoảng những đám mây từ khe núi ào lên phủ kín cả núi rừng. Thiên nhiên thật là hùng vĩ, huyền ảo, kỳ thú và diệu huyền. Lòng người làm sao có thể không xốn xang trước một thiên nhiên mĩ miều đến như vậy!
Vịnh cảnh khe núi Cẩm Tú
Núi non hùng vĩ diệu kỳ,
Long lanh thác nước, xanh rì rừng thông.
Nắng vàng rực rỡ non sông,
Vực sâu, vách đứng, mênh mông đất trời.
Lư Sơn cảnh trí tuyệt vời,
Năm nhăm năm tái ngộ người ta yêu.
(Tại Lư Sơn Đại Lầu tối 21.8.08).

Sáng 22.8 chúng tôi rời Lư Sơn Đại Hạ đi về phương Nam. Ban giám đốc và nhiều nhân viên văn phòng của khách sạn xuống tận nơi xe đón dưới chân đường bậc thang để tiễn đoàn. Sau những lời từ biệt chân thành, những cái bắt tay tình nghĩa; đoàn chúng tôi đồng loạt hướng lên tòa nhà đầy ký ức năm xưa, giơ tay vẫy và nói những lời từ biệt: Tạm biệt Lư Sơn, tạm biệt Lư Sơn!
Đối với chúng tôi, đây có thể là lần cuối cùng trở lại ngôi trường xưa thân yêu này. Giây phút thật là lưu luyến, bịn rịn và xúc động lòng người. Nhiều khóe mắt luống tuổi đã rưng rưng trong giờ phút biệt ly ấy!
Xe xuôi theo con đường ngoằn ngoèo đổ dốc rời xa thung lũng Lư Sơn. Cảnh quan kỳ thú một lần nữa vun vút lùi xa khiến lòng người lâng lâng, buồn vui lẫn lộn. Nhưng cái đẹp tuyệt mĩ của vùng đất này thì không thể không tức cảnh thành thơ:
Vịnh cảnh đường lên Lư Sơn
Đường lên uốn khúc loanh quanh,
Tán cây rợp bóng, rừng xanh ngút ngàn.
Thông già thẳng đứng xếp hàng,
Vi la thấp thoáng, thôn làng khuất xa.
Suối reo hòa tiếng chim ca,
Nửa đời trở lại chan hòa buồn vui.
(Trên đường rời Lư Sơn, sáng 22.8.08).

"Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ" - Nặng nghĩa tình
Chúng tôi sống và học tập tại Trường Học sinh Việt Nam- Quế Lâm từ đầu năm 1954 đến hết năm 1957, ứng với lứa tuổi từ 8 đến 11 của tôi.
Trên đường trở lại trường Quế Lâm lần này, đoàn chúng tôi đều náo nức với biết bao kỷ niệm. Có lẽ tôi thuộc loại không nhớ nhiều hồi ức về thời gian sống ở Quế Lâm so với một số bạn trong đoàn. Họ kể vanh vách từng thày, từng cô; từ ai là hiệu trưởng đến ai là y tá... Trong khi tôi chỉ nhớ một vài người như thày Quán chủ nhiệm, cô Hương bảo mẫu của lớp mình. (Hồi ấy, chúng tôi còn bé lắm, phải có cô bảo mẫu để lo chuyện tắm, giặt nữa). Rồi thày Mộng Lân dạy hát, thày Toàn dạy thể dục. (Thày Toàn cũng là thành viên trong đoàn trở lại trường xưa của chúng tôi). Về người Trung Quốc, tôi chỉ nhớ rất ít như bác sĩ Đặng nổi tiếng trong vụ cứu sống “Tá chết đuối” và chạy chữa cho “Linh chột mắt”. Rồi y tá Khoa mà con mắt tuổi thơ của tôi đã thấy là một phụ nữ rất đẹp. Ban giám hiệu thì tôi chẳng nhớ một ai, ngoài Bác Cáp là hiệu trưởng đầu tiên mà sau này mới biết là người đã đón Nguyễn Ái Quốc từ TQ về nước năm 1941. Có lẽ nguyên nhân của “sự tậm tịt” này không phải do tôi chóng quên, mà vì thời gian ấy, tôi khá nhu mì, ít tiếp xúc, đặc biệt là với các giáo viên và cán bộ của trường.
Hồi ấy, tôi có biệt danh là “Hùng Híp”, vì mắt một mí, hễ cười là híp tịt lại. Tôi vốn nhút nhát, chỉ nghịch ngầm một mình hoặc a dua theo chúng bạn trong những trò trẻ con; chứ không dám tham gia những trò quậy phá của đám “học sinh cá biệt”. Bạn bè gần gũi với tôi đều là số ngoan và hiền lành. Đó là: Nguyễn Hồng Châu (HSMN, đến trường năm 1956. Hồi cuối thập niên sáu mươi, gặp lại bất ngờ khi tôi sơ tán tại một làng quê Hải Dương, còn Châu là sinh viên nông nghiệp thực tập đưa máy cày về đồng trũng. Cuối những năm tám mươi, Châu đã là một giám đốc công ty HAMACO của Hà Nội, giàu có lắm). TôThành Công- con ông Tô Quang Đẩu. Sau khi về nước, Công chết bệnh hồi những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Tô Kiến Xương, nhà ở phố Bảo Khánh, gần Hồ Gươm, Hà Nội. Xương ẻo lả như con gái. Tôi nhớ hai đứa “liên danh” với nhau trong một bức ảnh chung hồi lớp 2, đầu trọc lốc! Hồi cuối những năm tám mươi, tôi gặp lại Xương khi ấy là phó giám đốc Nhà máy cơ khí Hà Nội (tên đầu tiên là “Cơ khí Trung Quy Mô”, ở khu công nghiệp Thượng Đình). Hồ Sĩ Hậu- em ruột của Hồ Sĩ Tá (Tá “chết đuối”) mà từ sau khi về nước năm 1957 đến nay tôi chưa gặp lại. Nghe nói anh này hiện đeo lon thiếu tướng, cục trưởng một cục gì đó của Tổng cục Kinh tế Quân đội. Vũ Như Phượng, một nhân vật “nổi tiếng” với biệt danh “Phượng Rỗ”. Phượng không nổi tiếng bởi nghịch ngợm , cũng không tài ba gì. Nhưng “thằng” này rất có duyên kết quen thân. Nó quen rất nhiều người trong trường, cả lớn, cả bé, cả trong và ngoài lớp, cả thày, cô nữa. Ai cũng quý Phượng.
Trong số HSMN nhập trường và lớp chúng tôi năm 1956, có một số bạn tôi vẫn nhớ khá rõ.
Nguyễn Tường, con tướng Nguyễn Chánh, có nước da mai mái, cái đầu tròn thu lu và cái mũi cà chua mọng. Hồi lớp 3, học bài hát “Đội ca Thiếu niên tiền phong” khi Đội mới đổi tên từ “Thiếu nhi tháng 8”, Tường chưa được kết nạp vào Đội. Nhưng hôm kiểm tra bài hát, Tường lên bục, hiên ngang chắp tay sau lưng, mặt nghênh nghênh rất nghiêm trang và cất tiếng hát rất hào sảng: “Ta giương cao cờ Đội, cờ Tiền phong thiếu niên. Ta đắp xây muôn lòng kết liên lại vững bền…”. Nghe nói, trong chiến tranh chống Mỹ, Tường là một cấp chỉ huy cỡ tiểu đoàn của Phòng không.
Một cậu tên là Kỳ, rất hiền lành. Một số bạn trêu chọc kiểu “ma cũ bắt nạt ma mới”, Kỳ thường né tránh và nói “không thích dởn (dỡn) đâu”. Thế là anh bạn có biệt danh “Kỳ Dởn”. Hồi đầu thập niên chín mươi, tôi vào công tác ở Tp HCM thì gặp Kỳ “dởn” trong một cuộc họp của Bộ Ngoại thương. Anh ta là vụ phó đại diện phía Nam. Nhưng dường như Kỳ cố tình tỏ ra “không quen” tôi.
Trong số “học sinh cá biệt” của lớp, nổi tiếng nhất là Ngô Gia Hồi, con ông Ngô Gia Khảm. Hồi dường như hơn chúng tôi đến vài tuổi, lanh lẹ, lọc lõi đủ chuyện. Hồi công khai tỏ ra rất tôn sùng Hit- le. Cậu ta dùng đồng phục “bốn túi” sơn hắc ín lên, trông như áo da của phát xít. Rồi làm nẹp tre độn vào trong mũ vải, biến thành mũ kê pi. Hồi cắt bìa làm quân hàm, huân chương “chữ thập” và lấy bột mì nặn hình chim đại bàng- biểu tượng của Quốc Xã… Hồi thường mặc bộ “quân phục phát xít” ấy mà đe nẹt bạn bè; thậm chí bắt nộp hoa quả và kẹo bánh được phát… Hồi đầu têu nhiều trò nghịch ngợm mạo hiểm khiến cả thày giáo và nhà trường phiền lòng. Ví dụ tụ tập trốn lên núi Mắt Cú nhiều ngày, bỏ học, bắt chước sống như thổ phỉ… Nhưng Hồi có biệt tài rất lạ. Chơi cờ Tướng với nó thì khó ai thắng nổi. Chơi cờ Quân sự với Hồi chỉ có thua, bởi đầu ngón tay của nó có thể “nhận biết” hình vẽ các quân cờ của đối thủ, mặc dù không được nhìn bằng mắt… Hồi cuối cấp 2, khi đã về nước, tôi có gặp Hồi tại Gia Lâm và có đến chơi với nó tại khu tập thể Nhà máy Xe lửa Gia Lâm mà bác Khảm làm giám đốc. Vài năm trước, gặp lại Hồi cùng nhiều bạn khác đồng môn tại Hà Nội. Vẫn cái dáng nghênh nghênh thuở nào. Vẫn có vẻ sống phóng túng lắm. Hồi nói là sắp nghỉ hưu với quân hàm trung tá và lương thượng tá quân đội, vì không có chức vụ chỉ huy…
Con gái thì tôi chỉ nhớ mỗi Chu Hạnh Phúc. Nhớ vì khi mới nhập vào lớp, (Phúc sang Quế Lâm sau khi chúng tôi từ Lư Sơn xuống), Phúc bé tí xíu và rất hay khóc nhè. Nó khóc vì nhớ nhà và bỏ cơm nhiều bữa, khiến thày Quán, cô Hương phải dỗ dành; trông mà “ghét”! Mấy năm nay gặp lại Phúc trong số bạn đồng môn sống tại Tp HCM. Cũng đã “6X” và lên bà rồi mà Phúc vẫn có dáng vẻ “mi nhon” lắm…Ngoài ra còn một vài cái tên với những ký ức mờ nhạt khác: Lê Nghiêm Trang, Khổng Thị Hạc, Cao Thị Nguyệt (HSMN)…

Ký ức về khu trường thì không tệ lắm.
Rõ nét nhất là khu vực của trường nằm kế chân một dãy núi phía sau. Núi Mắt Cú (do bọn nhỏ chúng tôi tự đặt tên, vì thế núi giống như một con cú đứng im. Đôi mắt cú là hai cái hốc kề nhau sát trên đỉnh) xừng xững đơn độc phía bên phải khu trường, ngay sau nhà bếp tập thể của khối lớp chúng tôi. Đằng sau núi Măt cú là dòng Ly Giang, nơi chúng tôi thường được bảo mẫu dẫn ra tắm tập thể vào mùa hè. Tôi biết bơi từ con sông ấy. Bao quanh trường là một bức tường đá khá cao và dày. Cổng vào trường có vọng gác của các chú Giải phóng quân Trung Quốc. Giữa khu trường là một sân vận động đủ kích thước một sân bóng đá. Tại đây, chúng tôi đã tập trung để nghe truyền thanh trực tiếp cuộc mít tinh biễu binh lớn ngày 01.01.1955, khi Bác Hồ và trung ương Đảng ra mắt nhân dân Hà Nội sau ngày hoàn toàn giải phóng. (Nhưng do kỹ thuật phát thanh hồi đó kém quá, nên chỉ nghe toàn tiếng nhiễu ồn ào). Nhà Hiệu Bộ hai tầng bên cạnh một cái hồ khá lớn. Phía  sau những dãy nhà ở và lớp học là một cái hồ lớn hơn, nơi chúng tôi thỉnh thoảng được “du ngoạn” bằng thuyền với sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm và cô bảo mẫu. Gần chân dãy núi phía sau là một nhà trệt nhỏ dùng làm bệnh xá cho các trường hợp khá nặng hoặc cần cách ly. Chúng tôi gọi nhà này là “Côn Đảo” vì nó biệt lập và khá hoang vu.
Hồi ấy, trường chúng tôi là một khu hoàn toàn biệt lập và cách khá xa làng mạc của người TQ. Từ trường ra thành phố Quế Lâm cũng không gần. Thỉnh thoảng, chúng tôi được đi tập thể ra Quế Lâm chơi. Phải đi bằng xe tải trên một con đường nhỏ băng qua một cánh đồng…
Vậy mà chiều ngày 18.8, khi thực hiện chương trình thăm trường Cao đẳng Sư phạm Chuyên khoa Quảng Tây đóng trên địa điểm trường cũ của mình, (giờ mới biết nơi ấy thuộc thôn Giáp Sơn- đúng là một làng “kề bên núi”), chúng tôi không khỏi hồi hộp, ngỡ ngàng, vì xe chạy trên một con đường dáng dấp ngoại ô thành phố, với những nhà cửa nối tiếp đôi bên, mãi không thấy “cánh đồng” đâu cả. Một ngọn núi đơn độc xuất hiện bên phải đường. Tôi ngờ ngợ. Rồi một cổng trường hiện ra. Tôi kêu lên: “Đến trường chúng ta rồi”! Thực ra, không có cảnh quan nào để nhận ra dung nhan xưa kia của trường. Tôi chỉ cảm nhận bởi thấy cổng trường đã mở sẵn. Xa bên trong có mấy người lố nhố như đứng đợi và kề đấy có một tấm pa- nô nền đỏ, chữ Việt Nam màu vàng nổi bật. Cảm nhận của tôi được xác định khi xe chạy thẳng qua cổng và chúng tôi đã đọc được nội dung tấm pa- nô: “Nhiệt liệt chào mừng đoàn cựu học sinh Việt Nam đến thăm trường chúng tôi”. Một vài giới chức của trường Cao đẳng sư phạm nồng nhiệt và thân tình đón chúng tôi xuống xe. Sau một vài động tác xã giao ngắn ngủi, chúng tôi bị hút ngay vào tìm lại những cảnh quan của khu trường. Rõ nhất là dãy núi phía sau trường vẫn còn đó với màu xanh lam của cây cỏ lúp súp như xưa. Một vệt đá trắng bạc chạy dọc trên vách núi gợi nhớ hồi xưa chúng tôi thường trèo lên đấy rồi liều mạng tuột xuống theo vệt đá ấy. Tôi đã có lần trèo lên đến đỉnh núi, không cao lắm, nhìn sang phía bên kia là cánh đồng và làng mạc.
Mọi người nhận ra ngay nhà hiệu bộ vẫn nguyên dáng vẻ và màu vôi vàng sẫm như xưa. Tòa nhà hai tầng ấy nay e ấp dưới những bóng cây lớn và thật khiêm nhường khi ngay gần đó là một khối kiến trúc mới đang sắp hoàn thành. Cái hồ vẫn còn đó. Phía trong còn có một tòa nhà 2 tầng nữa y nguyên kiến trúc xưa. Có người trong đoàn nhận ra đó là nhà mà lớp của họ đã ở. Sân vận động đã biến mất. Thay vào đó là một kiến trúc nhiều tầng khá hoành tráng đang trong giai đoạn hoàn thiện. Dường như đó là khu nhà văn phòng và giảng đường lớn của trường hiện nay. Nhìn một vài kiến trúc cũ với kiểu dáng cổ lỗ đứng e ấp bên những khối nhà “vuông thành sắc cạnh”, toàn kính sáng choang mới xây dựng sau này hoặc đang trong thời kỳ hoàn thiện, thấy kệch cỡm làm sao!
Đại diện ban giám hiệu của trường Cao đẳng Sư phạm hiện nay giải thích rằng họ cố tình giữ lại một số kiến trúc cũ, nhằm tạo điều kiện cho các cựu học sinh Việt Nam dễ nhận ra mỗi khi trở lại thăm trường. Xin thàh thật cám ơn ý tưởng đầy tính nhân văn ấy.
Mấy đứa cùng lớp “bé” chúng tôi cứ thắc mắc vì không thấy núi Mắt Cú đâu cả. Sau một lúc bàn tính định hướng, chúng tôi đi vòng ra phía sau khối kiến trúc mới, rồi tới sau nhà hiệu bộ cũ, thì phát hiện núi Mắt Cú bị khuất sau những kiến trúc của một khu khác, bên kia bức tường ngăn cách. Thì ra, khu trường cũ của chúng tôi nay đã ngăn làm hai khu riêng biệt. Chúng tôi đang đứng ở khu văn phòng và giảng đường. Còn bên kia bức tường ngăn cách, nơi có núi Mắt Cú, là khu ký túc xá sinh viên. Chúng tôi phải đi ra cổng trường, vòng sang một cái cổng khác, vào khu ký túc xá. Và núi Mắt Cú hiện ra với đầy đủ dáng vẻ ngày nào trước mắt chúng tôi. Tôi đã ghi hình được ngọn núi ấy ở một góc khá thuận lợi. Hồi ấy, chúng tôi rất thường trèo lên núi Mắt Cú. Có một cái hang rất rộng và sâu ở lưng chừng núi mà chúng tôi thường chui vào đó nghịch ngợm. Đã từng có một nhóm “quậy” ở lớp tôi, do Ngôi Gia Hồi cầm đầu, rủ nhau bỏ học trốn lên hang ấy làm “thổ phỉ” nhiều ngày. Ban đêm, chúng lén về nhà bếp tập thể ngay chân núi để lấy trộm thực phẩm tươi, mang lên hang nướng ăn đúng như thổ phỉ thật. Chúng tôi còn lên núi nhổ kiệu hoang về muối dưa ăn. Kiệu mọc thành từng đám, nhiều lắm. Lại có đứa biết cách làm thạch bằng một loại lá cây gọi là “tiết dê”. Thế là cả bọn lên núi hái từng bó lá về, vò nát, lọc lấy nước, đựng trong chậu rửa mặt, để dưới gầm giường qua đêm. Sáng ra, mỗi đứa một chậu thạch đen đầy. Chỉ tội không có nhiều đường để ăn. Làm thì nhiều, mà đổ đi là chính.
Mấy chị cùng lớp còn vào sâu trong khu ký túc xá, (khi tôi bận quay phim, chụp ảnh) và đã tìm thấy cái hồ lớn vẫn chưa bị lấp.

Hồ này cũng nhiều kỷ niệm lắm. Nổi tiếng nhất là vụ Hồ Sĩ Tá “chết đuối”. Anh em Tá- Hậu (Hồ Sĩ Hậu) cùng lớp với tôi, nên tôi nhớ “vụ này” rõ lắm. Hôm ấy, lớp tôi được đi thuyền trên hồ. Có hai loại thuyền: Tập thể và 4 người. Thày Quán nói đứa nào biết bơi mới được đi thuyền “4”. Còn lại phải lên thuyền tập thể, lớn hơn và an toàn hơn. Tá nói phét là biết bơi để được lên thuyền “4”. Tuy vậy cũng chẳng có chuyện gì xảy ra khi thuyền di chuyển trên mặt hồ. Nhưng đến khi học sinh lên bờ hết, điểm danh thì thày Quán không thấy Tá. Tội nghiệp thày giáo chủ nhiệm và cả cô Hương bảo mẫu, khi ấy “mặt không còn giọt máu”. Chúng tôi thì cứ ngây ra trong khi thày Quán và cô Hương không giấu nổi sự luống cuống tột độ. Thày hỏi dồn dập xem có em nào trông thấy Tá đâu không? Mãi rồi mới có một đứa ấp úng nói: “Hình như có một cái quần đen chìm xuống chỗ này”. Nó chỉ xuống chỗ nước chỉ cách bờ hồ vài mét. Nước hồ đục lắm, làm sao trông thấy dưới đáy được. Thày hỏi dồn như quát: “Chắc không? Đúng có thấy người chìm xuống không”? Đứa bạn phát hoảng, không dám chắc lời mình vừa nói. Tuy vậy, thày Quán cũng lập tức nhảy xuống chố nước ấy. Ai cũng nghĩ nó nông lắm, vì ngay sát bờ. Vậy mà thày Quán mất tăm sau khi nhảy xuống. Rồi thày ngoi lên, lấy hơi. Lại lặn xuống lần nữa. Mọi người hồi hộp, lo âu chăm chăm nhìn xuống chỗ nước đục ngầu. Và thầy Quán lại ngoi lên, trên tay là thằng Tá đã “chết” lịm! Thầy lập tức đưa nó lên bờ, dốc ngược đầu xuống, giơ cao hai cổ chân nó và nhảy, nhảy để nó ộc nước ra. Vô ích. Toàn thân Tá tím tái. Nó không ộc nước trong bụng ra được. Thày Quán cõng Tá trong tư thế lộn đầu xuống dưới và chạy một mạch ra trạm xá- “Côn Đảo”. Ở đó, bác sĩ Đặng tiếp nhận cái xác thằng Tá và nỗ lực hết mình để nó sống lại.
Câu chuyện bác sĩ Đặng đưa thằng Tá trở về từ cõi chết không học sinh nào của Quế Lâm thời ấy không biết, mặc dù chỉ được nghe kể lại, vì Tá chịu chế độ chăm sóc đặc biệt suốt ngày đêm, không ai được tiếp cận ngoài bác sĩ Đặng và các trợ lý của bà. Việc Tá không thể tự ộc nước trong bụng ra khiến nó gần như đã chết lâm sàng. Chỉ còn tim thoi thóp đập. Bác sĩ Đặng đã tự mình dùng miệng hút nước trong bụng nó ra; hút cả bùn đất đầy trong mũi, trong miệng nó. Với hoàn cảnh thời ấy, phương tiện, thuốc thang vô cùng thua kém bây giờ, có thể nói nếu không có bác sĩ Đặng, với trái tim nhân hậu và tình thương bao la của bà, thì Tá không thể nào sống lại. Trước đó, chính thày Quán là người không quản gian nan, ngụp lặn tới 2 lần dưới làn nước đục ngầu để mò cho được Tá lên. Đó là hai người đã tái sinh thằng Tá.
Trở lại nguyên nhân cái “chết” của Tá. Thày Quán nói Tá bị thụt xuống một cái hố rất sâu ngay gần bờ. Mấy đứa khác cùng ngồi thuyền với Tá cũng rời khỏi thuyền lên bờ với nó, nhưng chỉ mình Tá thụt đúng hố sâu. Hố ấy là do người ta đào lấy đất đắp lên bờ khi hồ cạn vào mùa đông. Mùa hè, nước đầy hồ, không ai biết sát bờ lại có hố sâu như thế. Bởi vậy, không ai trách “cái tội” của Tá không biết bơi lại ra vẻ, nhận xằng để được đi thuyền “4”. Chỉ có điều không ai lý giải được tại sao khi bị thụt chân xuống hố, ngay trước mắt mọi người cùng lớp, mà Tá không hề quẫy đạp, không hề tri hô? Nó lặng lẽ chìm xuống để chỉ có một đứa (tôi không nhớ là ai) trông thấy “hình như có cái quần đùi đen chìm xuống”?
Bác sĩ Đặng còn cứu thằng “Linh chột” cũng của lớp tôi. Linh ném nhau với đứa nào đó, cũng ở ven cái hồ nói trên. Mùa đông, hồ cạn khô. Dùng đất ném nhau là trò nghịch dại dột mà bọn tôi hay làm. Linh chẳng may bị một hòn đất trúng mắt, khiến con ngươi lòi ra. Sau đó, nó được đưa đi chữa trị. Chúng tôi nghe kể lại: Khi con mắt bị khoét bỏ, mắt giả lắp vào không đung đưa được, trông rất “dại”. Bác sĩ Đặng, vốn có thân hình tròn vo, đã chấp nhận cắt một phần mỡ bụng của mình “lắp” vào hốc mắt Linh, để con mắt giả có độ trơn trượt mà đung đưa được. Chẳng biết đó chỉ là một “huyền thoại” hay chuyện thật nữa? Hồi ấy, tất cả chúng tôi đều coi bác sĩ Đặng như một thần tượng của “tinh thần quốc tế vô sản cao cả”. Còn cho đến bây giờ, chúng tôi không thể không tri ân tấm lòng nhân ái bao la của bà bác sĩ Trung Quốc ấy.

Về học hành, chúng tôi được học một chương trình hoàn toàn Việt Nam, với thày Việt Nam, sách giáo khoa tiếng Việt, hình như do chính trường tự in ronéo. Tôi thậm chí còn nhớ một vài bài học thuộc lòng lớp 2, lớp 3 gì đó. Như:
Cháu ơi sắp gánh đi/ Kẻo trưa rồi cháu nhé/ Ông nhìn cháu nhớ hồi còn bé/ Mẹ bán hoa ngóng mẹ suốt ngày/ Cháu đi một gánh hoa đầy/ Cháu về có đủ vải dày, gạo thơm/ Tết này nở trắng nồi cơm/ Áo hoa cháu với hoa vườn sáng tươi/ Tết này cái tết bảy mươi/ Lần đầu cùng với hoa cười đón xuân.
Và: Trên bãi cỏ xanh/ Gió chiều lộng mát/ Trên lưng bò em hát/ Những bài ca hòa bình…
Chúng tôi được học toàn diện lắm, cả thể dục, họa và nhạc nữa. Ngay từ hồi cấp 1 ấy, tôi đã có được kiến thức cơ bản đầu tiên về ký- xướng âm của thanh nhạc. Thày Mộng Lân rất tươi trẻ (có lẽ hồi ấy, nhạc sĩ Mộng Lân chỉ mới trên dưới 20 tuổi) và vui nhộn trong các giờ dạy hát. Tôi còn nhớ thày trắng trẻo như con gái và thường có những động tác nhí nhảnh, giả bộ dỗi hờn khiến chúng tôi cười bò lăn ra. Giờ học hát thật thú vị và thoải mái. Tôi nhớ khá nhiều bài hát đã học thời ấy. Những bài hát thiếu nhi, trong đó có không ít do chính thày Mộng Lân sáng tác. Ví dụ như bài: Lớp chúng mình/ rất rất vui/ anh em ta chan hòa tình thân… Hoặc: Đôi bàn tay trong trắng này ai mà không thấy yêu/ Đôi bàn tay trong trắng này, gớm khen ai giữ tài/… Những bài hát thiếu nhi Trung Quốc, trong đó nhớ nhất là bài Đi trại hè: Qua núi xanh qua bao đồng lúa vàng/ Cùng nhau vui ra đi, đi tới nơi tưng bừng…  Chúng tôi còn biết nhiều bài trong nước hồi đó, cả những bài ca kháng chiến và những ca khúc mới hòa bình. Nhiều bài hát Liên Xô, Trung Quốc,Triều Tiên… cũng được chúng tôi học thuộc. Bản thân tôi tự làm một tập bài hát chép tay, đủ cả nhạc, lời và đầu bài đều được trang trí đẹp đẽ. Tiếc là không còn giữ được những kỷ vật này.
Khối lớp cấp 1 của chúng tôi hồi ấy không được học thêm tiếng Trung Quốc, nên bây giờ tôi không thể tự giao tiếp được. Đúng là đã đi nhiều nơi trên thế giới, khi dùng tiếng Anh, lúc dùng tiếng Arab và cả tiếng Nga nữa; nhưng đến Trung Quốc thì chịu chết cứng! Chỉ biết  “Chicơ tôxẻo xẻn”; “ủa mấydẩu xẻn”… cùng cách đếm số TQ và cách gọi đồng (khoai), hào (mảo)… để mua phở, mua kem mỗi khi được ra phố Quế Lâm chơi. Phố xá Quế Lâm hồi ấy nhỏ bé và cũ kỹ lắm. Chúng tôi cũng chỉ đi biết một khu buôn bán nhỏ hẹp của thành phố mà thôi. Mỗi lần như thế, mỗi đứa được phát ba hào. Tôi cứ ăn phở thịt lợn (xá xíu) hết hai hào rưỡi. Còn năm xu thì một cây kem.

Thành phố Quế Lâm ngày này đã phát triển gấp rất nhiều lần nửa thế kỷ trước đây, cả về quy mô và chất lượng kiến trúc. Quế Lâm đã trở thành một trung tâm du lịch nổi tiếng của cả nước Trung Quốc. Nổi tiếng bởi phong cảnh sơn thủy hữu tình. Hàng ngàn ngọn núi đá vôi lô nhô đúng tầm cỡ một Vịnh Hạ Long trên cạn. Đặc biệt sông Ly Giang như một dải lụa xanh luồn qua các rặng núi. Ở một  khúc sông chảy qua thành phố còn có ngọn núi hình thù như đầu con voi khổng lồ thả vòi hút nước sông Ly. Núi lại soi bóng xuống dòng nước trong xanh, tạo một thiên đường trên địa giới.  

Còn mãi một tấm lòng 
Tại Quế Lâm, chúng tôi đến thăm trưòng Đại học Sư phạm Quảng Tây. Nơi đây từng là “Trường 2 tháng 9” của học sinh Việt Nam thời chiến tranh chống Mỹ. Trong khuôn viên trường này có một khu đài lưu niệm của các cựu học sinh Việt Nam tại Quế Lâm thời chiến tranh. Có một tượng đài được xây dựng tạo dáng một quyển sách mở ra, dựng trên thảm cỏ. “Trang” bên trái là một “tờ giấy”, có một khối phù điêu hình một cái nón, một cái túi dết và một cái bi đông- tượng trưng cho hành trang nghèo nàn và đơn sơ của một học sinh Việt Nam khi mới đặt chân lên đất nước Trung Quốc. Bên dưới khối phù điêu ấy là dòng chữ bằng hai thứ tiếng Trung- Việt: “Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung Việt muôn năm”

Ở Quế Lâm một kỷ niệm khó quên là cuộc gặp gỡ thân tình giữa đoàn chúng tôi với các đại diện của Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây, bởi nơi này được coi là “đại diện” cho các trường Việt Nam ở Quế Lâm thời Việt Nam kháng chiến. Đoàn chúng tôi đã tặng trường này một tấm ảnh kỷ niệm trong buổi tiếp đơn sơ và ấm áp mà các vị đại diện của trường dành cho chúng tôi. Ở hành lang khu văn phòng của trường, có một “góc” dành cho những hình ảnh lưu niệm của các cựu học sinh Việt Nam thời chiến tranh. Một số người trong đoàn chúng tôi đã nhận ra mình trong những tấm hình “quàng khăn đỏ” cách nay hơn nửa thế kỷ.
Còn việc tiếp đón của Trường Cao đẳng Sư Phạm Quế Lâm thì đúng là dành cho những người thân lâu ngày mới gặp lại. Trước chúng tôi, đã có một số nhóm trở lại thăm trường với hình thức du lịch như thế này. May mắn là có sự liên hệ trước, với “trung gian” là chị Niệm- một cán bộ chuyên về Việt Nam của trường. Khi đoàn chúng tôi đến, đã thấy ngay khẩu hiệu chào mừng. Trong buổi tiếp tại văn phòng của trường, chúng tôi đã cùng hát bài “Ca ngợi Tổ quốc”, khiến các bạn Trung Quốc rất phấn khích và hát theo. Khách hát tiếng Việt, chủ hát tiếng Trung, hòa vào nhau như một bản hòa tấu của tình cảm giữa những người thân. Chúng tôi cũng tặng trường một tấm ảnh kỷ niệm. Đại diện trường đã chiêu đãi chúng tôi một bữa tiệc thịnh soạn tại một nhà hàng “xịn” của Quế Lâm.
Trước đó, chúng tôi còn tổ chức một bữa tối thân mật mời một số cựu giáo viên của trường tới dự. Đáng tiếc là, vì tuổi cao, sức yếu và hoàn cảnh cá nhân, chỉ có 1 cô và 2 thày đến được. Họ thảy đều đã trên bảy mươi tuổi. Có người trên tám mươi. Gặp nhau tay bắt mặt mừng. Những tấm hình lưu niệm chụp chung. Những mái đầu muối tiêu của “trò cũ” bên mái tóc bạc phơ của “cô xưa”, thật là cảm động! Trong bữa cơm thân tình, chúng tôi cùng hát lại những ca khúc Trung Quốc ngày nào. Chắc chắn những lời ca, điệu hát ấy gợi lại nhiều cảm xúc đối với những bậc cao niên Trung Quốc hôm nay, bởi có khi chính họ cũng đã rất lâu không được nghe những giai điệu của một thời xa xôi ấy.

Ở Lư Sơn, do không có liên hệ trước, nên những người đương nhiệm của Lư Sơn Đại Lầu và Nhà Lưu niệm Đảng CS TQ bất ngờ khi đoàn chúng tôi xin gặp và trao tặng phẩm lưu niệm. Nhưng khi nghe chuyện của đoàn chúng tôi, họ đều ngạc nhiên thú vị và ngưỡng mộ. Chúng tôi đều được mời ký tên vào sổ vàng của  Nhà Lưu niệm và chụp hình chung với ban lãnh đạo hiện thời. Đặc biệt, giám đốc KS Lư Sơn Đại Hạ tỏ lời xin lỗi vì không biết trước danh phận của đoàn để có những ưu đãi riêng. Tuy vậy, ông này cũng đã tặng đoàn chúng tôi vài món ăn “đặc biệt” của Lư Sơn trong một bữa ăn tối. Khi đoàn rời KS, ban giám đốc cùng nhiều nhân viên văn phòng đã tiễn chúng tôi trước khi lên ô tô. Họ thật sự xúc động khi thấy những “cựu học sinh Việt Nam” đáng tuổi cha mẹ của họ cùng hướng lên Lư Sơn Đại Hạ, tay vẫy, miệng đồng thanh “tạm biệt Lư Sơn, tạm biệt Lư Sơn”. Hình ảnh và những âm thanh ấy dường như đọng mãi, vang mãi ở khúc kết của băng hình mà tôi ghi lại cho toàn chuyến đi đáng nhớ này.

Thay lời kết
Chị Minh Phụng - học cùng khối lớp với tôi trước đây (mà tôi hoàn toàn không nhớ), lần ấy được trao trọng trách “đoàn trưởng” của chúng tôi, có một bà mẹ nuôi tại Quế Lâm. Mối tình mẹ - con này có từ hơn 50 năm trước, mà tôi đâu biết. Khi Phụng mời tôi cùng mấy chị bạn đi gặp “mẹ nuôi”, tôi mới tận mắt thấy mối tình kỳ lạ ấy. Mẹ nuôi của Phụng nguyên là y tá của trường Quế Lâm. Hơn 50 năm không gặp nhau, nhưng họ vẫn thường thư từ qua lại. Bà mẹ không biết tiếng Việt. Cô con nuôi không biết tiếng TQ. Vậy mà họ vẫn “mẹ con” từng ấy năm được thì đúng là lạ lùng! Nhờ chị Niệm bố trí trước, mẹ con họ gặp nhau cứ như mẹ con thật. Phụng gọi “mẹ” từ xa, khi mới nhận ra bà già TQ. Họ ôm nhau nước mắt lưng tròng, mừng mừng tủi tủi, chẳng khác gì mẹ con ruột lạc nhau hơn nửa thế kỷ mới găp lại! Chị Phụng hơn sáu mươi tuổi rồi mà cũng phụng phịu làm nũng như bé gái lên mười. Bà mẹ ôm đầu con gái, vuốt ve, nựng má như với đứa con nít chưa rời bầu sữa. Phụng quả là một trường hợp hạnh phúc rất cá biệt, vì có mẹ trong những năm tháng ấy; trong khi chúng tôi, tất cả đều như những đứa bé được nuôi dạy ở một trại trẻ mồ côi đặc biệt- Trường Thiếu nhi Việt Nam tại Quế Lâm./.

Tp Hồ Chí Minh, ngày 06.9.2008.
NGUYỄN NGỌC HÙNG

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2016

BÀI ĐĂNG KÝ IN SÁCH CỦA TIẾN HOÀN


Lê Tiến Hoàn
KỂ CHUYỆN TUỔI THƠ

Tác giả ngày xưa và hiện nay

1. GIA ĐÌNH
Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê Bắc Ninh ven sông Cầu.
Thuở ấu thơ, tôi sống bình yên, vô tư trong một gia đình nhà nho có 5 anh chị em, 3 nam , 2 nữ (không kể hai người chị lớn đã mất trước đó). Tôi là con út. Năm 8 tuổi tôi mất cha, 12 tuổi mất mẹ, và cũng thời gian ấy anh trai thứ hai tôi là bộ đội hy sinh ở tuổi 19 - 20. Từ đó, gia đình tôi mỗi người một ngả.

Trước cách mạng cha tôi được mời nhưng không chịu ra làm việc cho Pháp mà chọn nghề dạy học, cả chữ nho và chữ quốc ngữ. Ông có rất đông học sinh, sau này có những người trở thành cán bộ cao cấp. Đi đâu nhắc đến ông mọi người đều tỏ ra rất kính nể. Sau cách mạng ông làm việc ở HĐND tỉnh. Ông là người sáng lập ra “Hội Giúp Binh sĩ bị nạn” liên tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang thời đó và làm Chủ tịch Hội. Ông đi công tác vắng nhà liên tục.
Tôi nhớ mãi lần cuối cùng chia tay với Người. Hôm ấy, tôi đang học lớp nhì  trường làng - tương đương lớp 3 bây giờ - thì cha tôi đến gặp thầy giáo một lúc, sau đó thầy cho tôi về với cha. Cha bế tôi lên đưa về nhà. Trên đoạn đường làng ngắn ngủi, hai cha con đã nói những gì, tôi không còn nhớ nữa. Ký ức duy nhất đọng lại là niềm vui sướng hân hoan của một đứa trẻ 8 tuổi, không còn nhỏ nữa, mà vẫn được cha bế. Có ngờ đâu, đó lại là những giây phút cuối cùng tôi được ở bên cha mình. Còn cha, chắc hẳn ông đã lường trước được sự nguy hiểm của chuyến đi công tác lần này. Chia tay cha, tôi nước mắt lưng chòng chạy theo ông đến đầu làng… Tôi vĩnh biệt cha như vậy đó.
… Trong chuyến công tác ấy (12-1948) phái đoàn của Tỉnh vào vùng địch chiếm động viên đồng bào tham gia và ủng hộ cuộc kháng chiến. Đúng hôm địch đi càn quét, đoàn rút xuống hầm bí mật nhưng bị lộ, mọi người thoát lên cửa dự phòng tản đi các nơi. Cha tôi cùng một bác chạy được đến con sông ngăn cách vùng tự do và vùng địch chiếm, trong khi bơi thì cha bị trúng đạn vào đầu. Vết thương nặng, ông cố bơi lên bờ, lết đến một ruộng lúa, không có ai bên cạnh cứu giúp, chắc do mất máu nhiều ông đã hy sinh:
…Thương Cha hấp hối nằm không - màn trời
Một mình bê bết máu tươi
Lê ven bờ ruộng, chắc Người rất đau
Kẻ thù ở lại phía sau
Anh em đồng chí có đâu bên mình...
Thế rồi Cha đã ... hy sinh
Bên bờ ruộng nước, một mình nằm im...
Thời gian trôi mấy ngày liền
Tin Cha mất tích Mẹ yên sao đành
Ngày ngày mong có tin lành
Nào ngờ tin dữ bay nhanh về nhà...
Vài ngày sau gia đình được tin ông mất tích, rồi tiếp đó là tin về như sét đánh – ông mất rồi, đã tìm thấy xác.
Tin sét đánh đến với cả nhà
Chúng con đau đớn thương Cha khôn cùng
Mẹ con như chết trong lòng…
Những ngày đó nhiều người từ các cơ quan tỉnh, huyện lân cận đến nhà rất đông để thăm hỏi, động viên mẹ tôi. Không khí rất im lìm, đau xót. Khi đó máy bay địch hoạt động dữ dội nên tỉnh đã tổ chức đưa linh cữu Cha về quê vào ban đêm, chôn cất cách nhà khoảng 6 - 7 km.
Tôi nhớ mãi:
Một đêm, đi bộ rất xa
Đôi chân con trẻ theo đà người thân
Lén đi tưởng gặp Cha nhanh
Đi mãi đến chỗ - chẳng rành nơi nao
Bao người đông đúc ồn ào
Áo quan nằm đó, Cờ Sao treo tường
Bàn thờ nghi ngút khói hương
Nến đèn mờ ảo vấn vương hồn Người
Hình Cha tươi rói nụ cười
Lòng Mẹ đau xót thương Người nằm đây
Mẹ lịm ngất, nằm ngay phủ phục
Ôm hồn Cha, Mẹ khóc ai hay...
Mẹ tôi từng tham gia công tác trong Hội Phụ nữ Cứu quốc, làm Hội trưởng Hội Phụ nữ xã. Sau khi cha mất, quê tôi bị quân Pháp bắn phá thường xuyên và dần dần bị chiếm đóng, mẹ tôi đưa gia đình đi theo kháng chiến. Chúng tôi tản cư lên Bắc Giang, rồi Thái Nguyên… Sau đó chị tôi đi thoát ly thanh niên xung phong, anh hai đang học đệ tam (lớp 7) thì đi bộ đội, anh ba được gửi lại vùng tự do học tiếp. Cuộc sống quá khó khăn, mẹ và tôi trở về quê trong vùng địch tạm chiếm. Còn anh cả thì đã thoát ly gia đình hoạt động bí mật từ trước cách mạng, khi Cha mất anh cũng không hay biết.
Cuộc sống trong vùng địch như một cơn ác mộng, lúc nào cũng lo nơm nớp. Ban đêm thì đại bác địch bắn ra vùng tự do bên kia sông, đạn bay vèo vèo trên đầu và nổ xé trời tưởng như ngay cạnh nhà. Ban ngày thì sợ Tây đi càn quét. Chúng bao vây rồi lùng sục khắp làng, tìm hầm bí mật, bắt cán bộ, du kích, vô cớ bắt người thường. Có lần anh thứ ba tôi về thăm nhà, gặp hôm địch đi càn, chúng bắt anh đi tập trung, anh phải giả vờ câm điếc, chúng bảo gì cũng lắc đầu, may có người học trò cũ của cha tôi trong số lính nói giúp nên chúng tha. Mỗi lần đi càn, quân địch cướp bóc, giết tróc, đánh người, hãm hiếp phụ nữ, có khi cả bà già, trẻ em. Nhiều lúc mẹ tôi rất lo chúng phát hiện hầm bí mật trong nhà… Sau này tôi mới biết trong nhà mình có hai cái hầm bí mật, một cái phía dưới chuồng lợn, một cái dưới nền nhà bếp có lỗ thông hơi ra giếng. Thảo nào, mấy lần tôi thấy bọn lính cứ ngó xuống giếng rất lâu, nhưng có vẻ chần chừ rồi quay đi. Chắc vì giếng sâu nên chúng ngại.
Năm 1951, anh cả - vốn thoát ly gia đình tham gia cách mạng từ thời kỳ bí mật, đang đóng quân trên Việt Bắc - viết thư về bảo nhà chuẩn bị cho tôi sang Trung Quốc học. Tôi mừng lắm, vì đã phải bỏ học khá lâu. Nhưng mẹ không đồng ý, phần vì thương tôi còn nhỏ dại, không muốn cho đi xa, phần vì nhà chỉ có hai mẹ con. Nhờ vậy mà sau này, khi mẹ ốm nặng, tôi còn được ở bên chăm sóc cho Người, trong khi các anh chị đều đã đi xa. Mười hai tuổi, tôi tự mình nấu nướng, giặt giũ, xúc cho mẹ từng thìa cháo... Không thể ngờ rằng, đó lại là những việc cuối cùng tôi có thể làm cho mẹ. Làm sao tôi biết được mẹ sẽ bỏ tôi, bỏ mấy anh chị em tôi mà ra đi sớm như vậy. Trước khi mẹ mất, may mà chị tôi công tác ở gần nhà về được mấy hôm, còn các anh tôi: hai người bộ đội và một người đang học ở vùng tự do không về được. Lúc ấy đi lại từ vùng tự do vào vùng địch rất nguy hiểm, thường bị bắt hoặc ăn đạn địch như chơi. Trước lúc lâm chung, mẹ khóc và dặn không báo tin cho các anh để họ yên tâm công tác, học tập. Tôi biết mẹ thương nhớ và luôn lo cho các anh. Mẹ đau buồn biết chừng nào khi biết mình không qua khỏi, mà không được gặp các con. Mẹ có biết đâu, chỉ trong vòng một tháng sau khi mẹ mất, người con trai thứ hai của mẹ cũng đã hy sinh.
Sau khi mẹ mất, tôi còn lại một mình trong ngôi nhà cổ rộng thênh thang. Hàng ngày, ra chợ ở đình làng bán hàng lặt vặt và rau cỏ tăng gia được trong vườn nhà lấy thêm tiền sinh sống. Có khi tôi đi chợ phiên cách làng mấy cây số mua ít bánh kẹo, ít đồ tạp hóa về làng bán. Tôi còn nấu thạch bán cho trẻ con trong làng, nhưng phần lớn là bạn bè ăn chịu - thuộc loại nợ xấu khó đòi!... Khó mà tả được nỗi tủi hổ của tôi lúc bấy giờ. Nỗi lo vật chất không thấm gì với cái khổ về tinh thần, tình cảm - thương cha, nhớ mẹ, các anh chị. Lúc ấy tôi thấy rất bơ vơ, chẳng biết mình sẽ sống ra sao, biết dựa vào ai, bao giờ các anh chị mới về??? Mặc dù có gia đình của hai ông chú ở gần, nhưng tôi cũng không đến ở với chú nào cả. Tôi lo sợ đủ điều, rất hay khóc mỗi khi nghe ai nhắc đến cha mẹ và hoàn cảnh của mình. Về sau có mấy gia đình đến ở nhờ trong nhà nên tôi cũng vui hơn.
Nhà tôi có một tủ đầy sách chữ nho, chữ Pháp và chữ quốc ngữ của cha để lại, có cả nhiều chuyện hay tôi đã say mê đọc, nhưng nhiều chuyện tôi cũng chẳng hiểu gì vì khi ấy còn nhỏ tuổi. Bọn lính lấy đi rất nhiều sách, tôi tiếc lắm nhưng đành chịu, (số sách còn lại thì sau này khi CCRĐ cũng bị thất tán hết). Hàng ngày các gia đình phải luân phiên nhau cử người đi phu làm việc, xây đồn bốt cho Tây. Trẻ con 11 - 12 tuổi như tôi cũng chẳng được miễn. Tôi đã từng phải đi phu khuân đất đá, chặt tre, vác những cây tre dài đi mấy cây số cho chúng. Những lúc ấy, tôi cứ băn khoăn một nỗi: giặc đã giết cha mình, mẹ mình cũng chết vì chúng, thế mà mình lại làm cho chúng, liệu mình có tội với cha, với mẹ không? Tôi chẳng dám nói ra với ai điều đó và cũng không thể làm gì khác được. Một lần, như thường lệ, tôi cùng mấy đứa bạn theo những người lớn trong làng đi chợ cách nhà chừng 3 cây số, mua một yến muối gánh về để bán lại lấy vài đồng lãi cho những người chuyên buôn ra vùng tự do. Trên đường, rủi ro gặp bọn lính Tây đi tuần, bị chúng lùa vào đồn địch gần đó, nhốt trong sân nhịn đói đến chiều mới được thả về, muối bị tịch thu hết vì đó là thứ để “tiếp tế cho Việt Minh”. May mà hôm ấy đông người nên không ai bị chúng đánh đập và nhốt lâu.
Thời gian cứ trôi như vậy cho đến một hôm, khoảng cuối 1952 - đầu 1953, tôi vui sướng không tả nổi, khi chị gái về đón tôi ra vùng tự do. Quê tôi cách vùng tự do có một con sông. Gần đến thế, nhưng không ai dám qua lại, vì địch cấm đò, chỉ có du kích và cán bộ đi hoạt động mới dám bơi qua sông trong những đêm tối trời, nhưng phần lớn cũng bị địch từ đồn bốt ven sông đi tuần phát hiện. Cha của Lê Đắc Liêu lớp 5A, ông là em họ tôi, cũng đã hy sinh khi bơi qua khúc sông này. Vì thế, vào cái đêm tối trời ấy, chị tôi cùng một số người nữa đưa tôi đi im lìm qua mấy cánh đồng, qua hai con sông và làng mạc giữa các đồn bốt giặc - một con đường vòng thúng mười mấy cây số để ra vùng tự do cách làng mình chỉ một con sông! Tôi thót tim mỗi khi đi gần bốt giặc nghe tiếng súng nổ, đạn rít bên tai, phải nằm rạp xuống ruộng. Sáng sớm hôm sau đến nơi an toàn chị em tôi mới thở phào sung sướng.
Chị đưa tôi lên Phú Bình - Thái Nguyên gửi ở gia đình bà dì (mẹ của chị Nghiêm Chưởng Châu - một phụ nữ có tên tuổi và nhiều người biết đến) dưới chân đồi thông. Ít lâu sau tôi về ở cùng anh trai sát trên tôi, đang học lớp 8, ở nhờ 1 nhà dân bỏ trống, tôi vào học lớp 4 (trường Hàn Thuyên). Được đi học tôi vô cùng vui sướng, vì từ năm 1949 do tản cư tôi cứ vất vưởng, nay đây mai đó, không có chỗ học và khi về quê ở vùng địch chiếm cũng không có trường. Cuộc sống trong thời kháng chiến những năm ấy thật vất vả. Thỉnh thoảng, chị tôi công tác ở gần quê đem tiền và gạo tiếp tế cho hai anh em, đó là tiền hoa màu từ mấy thửa ruộng do họ hàng cầy cấy hộ. Nhiều khi ăn không đủ no, ăn khoai lang trừ cơm cồn cào sót ruột, cả tháng không được miếng thịt. Hàng ngày phải lên đồi cắt guột để lấy cái đun, rồi trồng rau, nuôi gà để có cái ăn và đạt thành tích tăng gia theo yêu cầu của trường. Hồi đó, có phong trào bắt sâu, nhổ cỏ lúa giúp dân, tôi là đứa chúa sợ sâu, sợ đỉa, thế mà lúc ấy cũng không dám kêu lấy một tiếng! Khắp nơi, ở nhà, ở trường đều phải đào hầm tránh máy bay địch oanh tạc, không ít học sinh của trường đã bị máy bay bắn chết. Khi máy bay địch hoạt động dữ dội quá cả trường phải học vào buổi tối, dưới ngọn đèn dầu leo lét. Tan học, đi về nhà qua quãng đồng, hoặc đoạn rừng chẩu, đồi thông tối mịt, có tiếng động khẽ là cả lũ chạy như ma đuổi, lúc ấy tôi và lũ bạn không những sợ ma mà sợ cả người vì đã từng được nghe nhiều chuyện rùng rợn.
2. LÊN ĐƯỜNG
Đầu tháng 9 - 1953, có một anh bộ đội, nghe nói là cần vụ của anh cả, về đón tôi lên Việt Bắc tập trung để sang Trung Quốc học, vì anh tôi bận không về được. Tôi vừa mừng, vừa lo. Nhớ lúc ở bến đò chia tay với anh chị để ra đi cùng anh bộ đội không quen biết, tôi khóc nức nở không kém gì lúc cha mẹ mất. Đi được quãng đường dài thì anh bộ đội dẫn tôi vào một quán uống nước, ăn quà. Lúc anh rút ví trả tiền, tôi giật mình thấy đó chính là cái ví nhỏ anh tôi kêu mất sáng nay, cả nhà cùng tìm khắp nơi mà không thấy. Khi bắt gặp ánh mắt ngạc nhiên của tôi, anh thản nhiên nói: “À chết, anh cầm nhầm cái ví của anh em!”. Thật lạ vì lúc sáng anh còn sốt sắng tìm hộ anh tôi! Từ đó, tôi không còn tin anh bộ đội này nữa, thậm chí còn lo sợ rằng anh ấy không đưa mình tới nơi cần đến. Nhưng biết làm sao bây giờ! Đành phải liều đi theo thôi, vì tôi chưa đủ can đảm để bỏ trốn. Lúc đầu, anh bộ đội dẫn tôi đi ban ngày, khi đến gần những nơi hay bị máy bay bắn phá thì đổi lại, đêm đi, ngày nghỉ. Chèo đèo, lội suối, băng qua rừng, qua núi, qua những địa danh nào, tôi không còn khái niệm vì khi ấy tôi chỉ lo một điều: “không biết anh bộ đội này dẫn mình đi đâu?” Sau mấy ngày đêm, khi hai chân tôi đã rã rời tưởng như không bước nổi nữa, thì anh bộ đội bảo: đến nơi rồi! Đó là Cục Tổ chức, nơi chúng tôi tập trung để lên đường sang Trung Quốc học tập.
Tôi được nhận chỗ ngủ ở một ngôi nhà lợp lá, chỉ có một cái giường tre dài dọc theo nhà, mọi người nằm sát liền nhau không có ranh giới (hình như vậy, tôi không nhớ rõ lắm). Cuộc sống ở đây không đọng lại nhiều trong trí nhớ của tôi, có lẽ vì thời gian tôi ở đó quá ngắn. Đến tập trung vào loại muộn nhất nên quân phục đã hết, tôi và mấy bạn nữa không được phát. Điều đó làm tôi buồn lắm. Trong khi, nhiều bạn mặc trông rất oai và hãnh diện, đúng là các chú bộ đôi con. Thật tiếc là tôi lại không có được niềm vui ấy.
Chỉ vài ngày sau, tôi cùng các bạn lên đường đến biên giới sang Trung Quốc. Đây là đoàn thứ 11, đoàn cuối cùng do Anh Chiểu và anh Ngoạn phụ trách. Trong đoàn có Hương Mạch và Nguyễn Khinh lớp 5 chúng mình và Phụng lớp 2 (vợ của Hoàng Kim Chung đã quá cố), cùng vài người nữa tôi nhớ tên nhưng sau này chưa bao giờ gặp lại là Thuấn, Mễ, Ngọc Trinh… Chuyến đi này vất vả không kém khi tôi đi từ nhà đến Cục Tổ chức. Đêm đi, ngày nghỉ, nhiều bạn nhỏ 9 - 10 tuổi vừa đi vừa ngủ gật, có lúc tôi phải cõng hoặc đeo ba lô hộ bạn nhỏ hơn mình. Ít ngày sau, tôi cùng các bạn được đi bằng ô tô, loại xe tải có ghế, có mui, ai cũng vui mừng. Một đêm, chúng tôi đang thiu thiu ngủ gà ngủ gật thì xe bất chợt dừng lại, có tiếng máy bay và một loạt tiếng súng nổ. Anh phụ trách hô mọi người xuống xe và chạy tản xuống ruộng. Trời tối, chẳng nhìn thấy gì, mọi người chạy tán loạn. Khi máy bay đi rồi, lên xe mới biết bạn Minh ngồi cạnh mình bị trúng đạn, tôi sợ quá. Mọi người đều thương bạn Minh, nhưng ai cũng hú vía vì xác xuất bị ăn đạn không phải là hiếm; đến Bằng Tường tôi mới hoàn toàn hết sợ. Từ đây trở đi có quá nhiều ấn tượng với những điều mới lạ nhưng tôi lại nhớ rất ít về cuộc hành trình này. Đến Nam Xương thì bạn Minh được đưa đi chữa trị vết thương, tôi cùng các bạn khác nghỉ ở khách sạn sang trọng, lạ lùng. Lúc đó bọn tôi còn chưa biết cả cách bật đèn điện.
3. LƯ SƠN
Đến Lư Sơn, tôi cùng Hương Mạch được phân về lớp 4A ở bên nhà nữ. Chưa hiểu mô tê gì tôi đã lăn ra ốm, sốt li bì, mê sảng, bị đưa sang bệnh xá nằm, được chị y tá Trung Quốc rất xinh đẹp chăm sóc và có anh Vũ Thuần phiên dịch. Vài hôm sau, tôi được biết anh Vũ Thuần là bạn học, ngồi cùng bàn và khá thân với anh thứ hai của tôi. Buồn vì nhớ thương anh, tôi ngậm ngùi suy nghĩ: bạn của anh đây, còn anh thì đã vĩnh viễn chôn sâu ở nơi nào? Không biết trước khi nhắm mắt anh đã nghĩ những gì? Có ai bên cạnh anh không? Anh đã được tin mẹ mất chưa? Thế rồi tự nhiên nước mắt cứ trào ra, tôi càng thấy nhớ nhà, thương cha mẹ, nhớ anh chị. Thời gian đầu mỗi khi nghĩ đến gia đình mình tôi hay buồn lắm.
Ở Lư sơn được ăn rất ngon, đặc biệt là món canh ca la thầu, bánh bao và cháo quẩy với sữa đậu nành, nhưng ghét cái là cứ phải đeo khẩu trang suốt ngày và uống đầy một ca nước muối sau khi ăn cơm, khi tuyết rơi thì không được mở cửa sổ và thò cổ, thò tay ra ngoài sờ mó, bốc truyết; lúc nào cũng “mặc áo ấm và quấn khăn di giầy”, quần bông, áo bông, mũ bông, giầy bông, người tròn như quả bóng. Lớp 4A do chị Nhâm dạy, tôi học khá nên chị phân công giúp môn toán cho một bạn. Nhiều khi giảng mãi mà bạn ấy vẫn chả hiểu, có lúc tôi bực mình với bạn ấy, thế là thành ra lại mắc khuyết điểm và bị phê bình. Kỷ luật ở đây nghiêm khắc lắm, ai có sai sót gì là bị kiểm điểm ngay, hình như cuối ngày còn bị chấm đen, chấm đỏ hoặc là đánh dấu cộng trừ hay sao ấy, tôi nhớ mang máng vậy. Xa nhà lần đầu, đến đây sống tập thể, học được bao điều mới lạ, kỷ cương, có bao nhiêu là bạn mới, tôi quen dần, trở nên vui vẻ, đỡ nhớ nhà và ít nghĩ đến hoàn cảnh gia đình mình hơn.
Ở Lư Sơn, lúc đầu tôi ở tổ hai cùng với Bích Ngân, Ngọc Trâm B, Hạnh Phúc, Ngọc Huyền, Phương Dung, Tuyết Mai..., sau chuyển sang tổ một có Chu An, Tô Hợp, Phương, Phụng Mỹ, Ngọc Trâm A, Thục Anh, Thanh Tú, Lệ Liễu, Hồng Hà, Tuyết Nga...
Khi trường chuyển về Quế Lâm, học được ít ngày thì tôi cùng Ngọc Trâm B, Bích Ngân, Hương Mạch, Lệ Thủy… được chuyển lên lớp 5. Chúng tôi được xếp vào vào 5B, riêng Lệ Thủy vào 5C.
4. HỒI ỨC QUẾ LÂM
Thời gian sống ở Quế Lâm quá ngắn so với các bạn cùng lớp nên kỷ niệm về trường, lớp, thầy cô và bạn bè của tôi không nhiều như mọi người. Nhưng tình cảm với lớp, với các thầy cô, bạn bè không thay đổi. Nhiều hình ảnh từ xa xưa vẫn còn rõ nét trong ký ức.
Nhớ mãi một hôm, chị Quế cho nữ sinh đi tắm, tôi không biết bơi nên dùng cái quần dài nhúng nước ướt, làm phồng hai ống quần lên rồi buộc túm lại thành “phao” nổi lềnh bềnh và cứ thế ôm “phao” tập bơi, đập chân, đập tay túi bụi. Mấy bạn nữ biết bơi đã khuân đá từ trong bờ ra xa đắp thành một ụ đá rồi bơi ra đó đứng. Những đứa không biết bơi như tôi đứng ở trong nhìn ra mà thấy thèm. Hôm ấy, có một bạn rủ tôi bơi ra đó. Tôi, điếc không sợ súng, đã bơi theo bằng chiếc “phao” quần. Đứng ở đấy sung sướng được một lúc thì, trời ơi! Bỗng nhiên tôi trượt chân làm hòn đá ở mép ụ chỗ mình đứng rơi tuột xuống. Bị mất thăng bằng bất ngờ, tôi lảo đảo, “chân không đến đất cật không đến trời”, sợ quá, tôi ôm chặt cái “phao” của mình vùng vẫy dưới nước, định “bơi” vào bờ. Được vài giây thì... (chắc mọi người đoán được điều gì xảy ra rồi!) “phao” của tôi bị xịt hết hơi. Tôi tha hồ húp nước vừa ngọt, vừa mát của sông Ly và lóp ngóp đang chìm dần xuống. Nhưng thật may, ngay lúc đó có bạn Nữ Hiếu và Minh Gương nữa thì phải, bơi rất giỏi, đã nhanh chóng đến bên cạnh đưa tôi vào bờ. Chẳng những tôi, mà các bạn khác, và nhất là chị Quế, được một phen hoảng hồn và cũng cười vỡ bụng. Về nhà, chị Quế bắt tôi viết bản kiểm điểm và phạt một tuần không cho xuống nước. Suốt một tuần tôi lẽo đẽo theo “đoàn” ra sông, nhưng không được xuống tắm. Sau, chị Quế khen tôi biết nghe lời. Chẳng hiểu giờ chị còn nhớ “sự kiện” đó không.
(28.2.08, Wednesday February 27, 2008 - 05:13pm (PST).
Lời bình của Chị Quế:
Đọc hồi ký của Hoàn, chị càng thông cảm với em và lý giải được nhận xét của chị lúc em còn đang học là cô bé hiền lành nhưng có nghị lực. Kỷ niệm về dòng sông Ly và những hôm cùng các em đi tắm thì vẫn in đậm trong tâm trí của chị. Lúc tắm sông, nhìn các em thoải mái vùng vẫy, nô đùa chị cũng vui lắm. Lúc đó chị đâu đã biết bơi. Thấy có mấy em biết bơi, chị phục lắm. Chị cũng nhờ đi tắm với các em mà bơi được một đoạn. Nhưng từ hôm xảy ra việc Hoàn bị xẹp ''phao bơi”, chị lo lắm. Lúc đó ý thức tự giác rất cao, chị báo cáo với bác Phương Hoa và bị phê bình, bác bảo ''tuổi này các cháu hiếu động lắm, em cần chú ý hơn''. Thế là từ đó, chị đứng tắm ở phía đoạn dưới, chỗ gần cái cầu đá nhỏ ấy, cách chỗ các em một đoạn để nhìn cho rõ. Có một bí mật mà chị không nói là có một lần nước chảy mạnh, chị vừa định bơi thì nước đã đẩy chị đến sát cái cầu đá ấy, chị hoảng hốt nhung cũng kịp nhoai vào cái mô đá ở chân cầu, tí nữa thì bị xuôi theo dòng nước. Từ đó đến giờ, chị vẫn chưa bơi được!).
Tôi cũng như nhiều bạn, rất nhớ những buổi chiều tối lớp 5B hay chơi trận giả. Bên nữ thì Nguyệt Nga đứng đầu, còn nam thì có lẽ là Nguyên Hân. Nguyên Hân nổi tiếng là “ác ”, còn được mệnh danh là “phát xít”. Tôi và nhiều bạn nữ trốn, bị phát hiện, không kịp chạy, bị bắt, bị vặn tay, hoặc dùng thắt lưng da quật túi bụi không thương tiếc. Đau lắm mà chị em nữ vẫn chịu đựng.
Một lần, có bạn nam trong lớp gọi đi tâm sự; chúng tôi đi đi, lại lại ngay sân sau nhà nữ, chẳng nhớ nói những chuyện gì, nhưng sau đó, tôi bị các bạn nữ chế mãi. Sau này, khoảng đầu những năm 70, tôi gặp lại bạn ấy ở khu tập thể nhà tôi. Bạn ấy nói: ngày xưa tớ thích cậu. Bị bất ngờ, tôi lúng túng chẳng biết nói gì. (Khi ấy còn trẻ nên không dám mạnh miệng như các cụ bây giờ).
Trong lớp, tôi ngồi ở dãy bên trái, bàn đầu. Bên phải tôi là Minh Kim, hay Thanh Mai nhỉ? Bên trái là Minh Ngọc, kế tiếp đến Trần Lương, họa sĩ đã quá cố. Sau lưng tôi bàn thứ hai, là Thanh Hiền ngồi ngoài, rồi đến bạn Hoàng Kỳ có vóc người nhỏ, hay vẽ người lính cầm súng và đội mũ kiểu như phát xít Đức, cách một bạn đến Quang Trung ngồi ngoài cùng, sát cửa sổ. Chiến Thắng, Bá Hoàng, Băng Ngạn ngồi bàn dưới cùng, gần cửa ra vào. Mấy bạn này tôi chả bao giờ nói chuyện. Khi mới sang Liên Xô tôi đã vẽ một sơ đồ chỗ ngồi của cả lớp để khỏi quên tên các bạn, nhưng rồi bỏ đâu mất, tôi tự trách mình mãi. Bây giờ thì không thể nhớ lại được nữa. Song tôi vẫn nhớ tên và chỗ ngồi của nhiều bạn như Mộng Ngọc, lớp trưởng đã quá cố, Đỗ Bảo, Nho Châu, Nguyên Hân, Phạm Kiên, Kim Trâm, Ngọc Trâm, Nguyệt Nga, Nguyệt Ánh, Nữ Hiếu, Dục Tú…
Thật may mắn, khi tôi cùng một số ít bạn được sang Liên Xô học tập, trong lúc phần lớn các bạn khác ở lại trường học tiếp. Một niềm vui lớn tràn ngập tâm trí tôi cùng với nỗi lo âu, hồi hộp khi nghĩ về một cuộc sống mới tươi đẹp đang chờ đón mình ở một nơi xa tít tận chân trời. Song, phải xa lớp, xa các thầy cô, các bạn, tôi lại thấy rất buồn, nhớ và luyến tiếc. Càng gần ngày chia tay tôi càng quyến luyến với bạn bè, với các thầy cô như chị Quế, anh Lại, anh Quý, những người coi tôi như em, thay cha mẹ bảo ban, dạy dỗ.
Khi loa của trường thông báo danh sách những người được đi Liên Xô học, tôi đang cùng với Yến Nga và Lệ Tiến đi bắt con cánh cam chơi. Lúc về, nghe các bạn nói lại, tôi cứ tưởng mọi người đùa. Thương Lệ Tiến vô cùng khi sau này một lần gặp Ngọc Trâm được biết tin bạn đã mất. Rất buồn là tôi và Lệ Tiến chưa hề gặp lại nhau từ khi rời Quế Lâm. Yến Nga tôi cũng chưa gặp lại. Bạn ấy nguyên là đội viên Thiếu nhi Tháng Tám được kết nạp từ trong nước, giống như Lê Đắc Liêu, tôi rất ngưỡng mộ. Mãi tận 20.6.1954 tôi mới được kết nạp vào Đội, cùng với Ngọc Trâm. Tôi nhớ trong buổi lễ kết nạp có bác Phương Hoa trao khăn quàng đỏ và dặn dò các đội viên mới. Khi chia tay, tôi và Ngọc Trâm đã đổi khăn quàng đỏ cho nhau làm kỷ niệm. Tôi giữ chiếc khăn thêu hai chữ Ngọc Trâm đến tận đầu những năm 80 của thế kỷ trước mới tặng lại cho con gái khi nó được kết nạp vào Đội. Tôi và Trâm còn đổi áo cho nhau nữa, chiếc áo hoa ấy sang Liên Xô tôi còn mặc mãi. Hồi ở Nga, có lần Trâm gửi cho tôi ảnh chụp cùng với Mẹ, lúc ấy bà rất trẻ đẹp. Các bạn tôi, cả Việt lẫn Nga, ai xem cũng bảo là hai chị em.
Tôi không quên được hình ảnh Nguyệt Ánh, Nguyệt Quý, hai chị em gầy gò yếu ớt hay dắt nhau đi ở sân trường, tôi rất cảm thông cảnh mồ côi của hai bạn ấy. Nữ lớp mình có Kim Trâm vừa xinh vừa giỏi, được đi dự trại hè quốc tế, bạn kể đã nấu món canh cà chua trứng khi thi nấu ăn; Nguyệt Nga chơi bóng chuyền sáu rất giỏi. Thúy Kim thì nằm cùng giường hai tầng với tôi, tôi tầng trên, bạn tầng dưới. Tôi sinh hoạt nhóm tâm giao cùng với Tuyết Minh và Thanh Mai. Khi đoàn 70 sắp lên đường nhiều bạn nữ viết lưu niệm cho tôi lắm, đầu tiên là Lệ Tiến rồi đến Yến Nga, … nhưng các bạn nam thì không ai viết. Các bạn nữ lớp mình và nhiều chị lớp 5C, lớp 6A, các thầy cô viết lưu niệm rất cảm động, chứa chan tình thương nhớ, lưu luyến, dặn dò khiến tôi cứ đọc là lại khóc rưng rức, sưng cả mắt. Quyển sổ lưu bút ấy cho đến ngày hôm nay tôi còn giữ.
5. LẠI GẶP NHAU
Hà Nội nhỏ bé, chật chội, đi đâu cũng hay gặp người quen. Hồi mới về nước công tác tôi hay gặp Chiến Thắng, Xuân Hoài, Trần Lương, có lần gặp Minh Ngọc ở gần Viện Sử, gần nhà tôi, Thế Long, Hữu Hùng giữa phố, có lần gặp Quang Trung ở trong trường ĐH TH, gặp Minh Kim trên đường về quê Bắc Ninh, bạn dạy học ở đó, gặp Ngọc Trâm mấy lần. Khi đó là thời chiến, phải lo bao nhiêu chuyện nên bạn bè không giữ được liên lạc và ít có điều kiện gặp nhau, nhưng mỗi lần gặp đều rất mừng rỡ. Sau này, cách đây khoảng 20 năm, khi còn công tác ở báo Tin Việt Nam tôi có gặp Băng Ngạn và kết quả là vang Thăng Long của bạn đã được quảng cáo trên mấy tờ báo xuất bản bằng tiếng Nga, Anh, Pháp của cơ quan tôi nhằm mục đích giới thiệu vang Thăng Long của Việt Nam cho bạn đọc nước ngoài. Bạn Băng Ngạn đã thưởng cho cơ quan tôi rất hậu bằng cách cho say lướt khướt bằng rượu vang của bạn ấy, mọi người liên hoan uống không hết còn chia nhau đem về. Tôi thì được ông chủ vang khao một bữa thịnh soạn ở Tràng Tiền, (đối với thời ấy là sang lắm đấy).
Hồi công tác ở Moskva tôi may mắn được gặp các bạn Phạm Kiên, Mai Tâm, Xuân Phú, Trương Trác cùng công tác ở Đại sứ quán với tôi. Nhờ đó mà có lần tôi được gặp các bạn Duy Khắc, Quang Trung, Cát Hồ, Hương Mạch… ở nhà Mai Tâm. Có những bạn tôi đã gặp lại từ thời học đại học như Dục Tú, Tạ Minh, Duy Khắc cùng học trường Lomonosov Moskva, còn Lệ Thủy, Bang Ngạn, Nguyên Hân, Phạm Kiên, Tài Đức học ở trường khác nhưng hay đến trường tôi chơi. Trước khi sang Moskva công tác tôi có học một khóa chính trị Mác-Lênin của trường Nguyễn Ái Quốc cùng với Dục Tú, Mai Tâm, Xuân Phú, lúc đó mấy đứa khá thân với nhau. Khi hết hạn công tác ở Đại sứ quán VN tại Tashkent Uzbekistan về nước, con gái tôi cho biết bạn Đỗ Bảo đã giúp đỡ cháu rất nhiều khi cháu học môn “Mỹ thuật” của bạn ở khoa Văn ĐHTH HN, tôi rất cảm động và biết ơn bạn. Thế mới biết, bạn bè Quế Lâm có khác, ở đâu cũng đều thân thiết, quý mến, giúp đỡ nhau hết lòng.
6. TỪ QUẾ LÂM ĐẾN INTERNAT MOSKVA
Rời Quế Lâm đi cùng đoàn 70 sang Liên Xô từ khối lớp 5 có 20 bạn trong đó chỉ có 3 nữ là Thanh Hiền, Tú Uyên và tôi (5B). Nam 5B có 5 bạn: Hồ Anh Dũng, Trần Xuân Hoành, Phan Trúc Long (đã mất), Phạm phu, Lô Quang Phú. Từ 5A có 8 bạn nam: Cao Việt Bách, Ngô Quốc Bưu, Hoàng Kim Chung (đã mất), Nguyễn Quang Huỳnh (đã mất), Hồ Uy Liêm, Lê Đắc Liêu (đã mất), Lưu Văn Lượng, Nguyễn Duy Thắng. Từ 5C có 4 bạn là Ngô Duy Cường, Lê Đông Hải, Phạm Khoản, Trần Phú thuyết. Tất cả chúng tôi cùng với 7 bạn từ Khu học xá Nam Ninh (Nguyễn Văn Chương, Hoàng Đức Du - con chũ Lã, Đỗ Dũng, Nguyễn Bích Hà - chị Nữ Hiếu, Trần Nguyệt Hồng, Hoàng Hữu Nhiếp, Đặng Hồng Phương) được xếp vào lớp 4 để học tiếng Nga, sang năm sau vào lớp 5 cùng học với các bạn Nga ở trường Phổ thông Trung học gần nhà. Chúng tôi được sống cùng nhau trong một ngôi biệt thự 2 tầng sang trọng nguyên là của một vị lãnh đạo cấp cao trong Chính phủ Liên Xô, nữ ở tầng trên, nam ở tầng dưới, xen lẫn với các phòng học, hội trường. Tầng hầm là nhà bếp, nhà ăn, nhà tắm, thư viện và phòng thủ công. Có sân chơi và khu vườn khá rộng. Chúng tôi sống bên nhau cho đến khi học hết phổ thông trung học. Hàng ngày sáng thì đến trường, chiều thì tự học, học ngoại khóa, vui chơi giải trí cùng nhau như một gia đình lớn. Suốt trong những năm học phổ thông chúng tôi không được phát tiền. Một hai tháng được viết 1 lá thư về nhà đưa các chị phụ trách gửi hộ. Ăn, mặc, học, chơi, nghỉ hè, tham quan… đều đã có nhà trường cùng các cô phụ trách người Nga lo cho. Việt Nam chỉ có 3 cán bộ phụ trách kiêm dạy thêm tiếng Việt. Chúng tôi sống với  nhau như anh em một nhà. Thương nhau, yêu nhau, ghét nhau, lấy nhau, bỏ nhau đều có cả. Vào đại học hầu hết chúng tôi học Đại học Tổng hợp Lomonosov Moskva các ngành toán, lý, hóa, sinh, ngôn ngữ cho nên vẫn thường xuyên gặp nhau. Khi về nước công tác đúng lúc thời chiến mỗi người một nơi. Ở bất cứ nơi nào chúng tôi đều cống hiến hết mình. Nhiều bạn (2/3) sau này được đi học nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án Tiến sĩ, Tiến sĩ Khoa học, trở thành các nhà khoa học, nhà giáo có uy tín, Giáo sư, Phó Giáo sư, hai bạn là nhạc sĩ – một là NSND Cao Việt Bách, hai là NSƯT Đỗ Dũng, hai người là Đại tá quân đội, có bạn làm Viện trưởng, có bạn làm quản lý cấp Thứ trưởng, Bộ trưởng. Còn tôi là một phó thường dân có trách nhiệm. Sau chiến tranh thỉnh thoảng có dịp chúng tôi lại tụ tập gặp nhau ôn lại tuổi thơ. Càng về sau này các cuộc gặp gỡ càng được tổ chức đều đặn thường xuyên hơn.
Đó là vài nét sơ qua về bản thân và một số bạn bè xuất thân từ lớp 5 Lư Sơn - Quế Lâm - Khu học xá Nam Ninh.
Tóm lại ở đâu chúng ta, những cựu học sinh Quế Lâm hay Internat cũng đều là những công dân tốt, có trách nhiệm, cống hiến hết mình cho đất nước và luôn là những người bạn tận tình thân thiết của nhau.
Hà Nội, 26.02.2008
Lê Tiến Hoàn
--------------------------------
COMMENTS
 THANH MAI,  Wednesday February 27, 2008 - 11:20am (ICT)
 Sao Tiến Hoàn nhớ tỉ mỉ nhiều thứ thế? Qua bài của bạn mình mới hiểu được tuổi thơ của bạn nhiều đau thương và quá vất vả, phải tự lập trong cuộc sống. Điều đó mình thật không tưởng tượng nổi!
Hồi đó Thanh Mai ngồi cạnh Tiến Hoàn chứ không phải Minh Kim đâu, vì mình nhớ là Minh Ngọc, Hoàn, Mai đã từng thi làm bài tập toán xem ai làm nhanh hơn, nhưng không nhớ ai nhanh nhất.
.........
 Dang Nguyet Anh, Wednesday February 27, 2008 - 12:35pm (ICT)
Đọc hồi ký của Tiến Hoàn mình đã phải khóc rất nhiều – Cứ nhòe nhẹt nước mắt nhưng mà đã đọc một mạch từ đầu đến cuối mặc dù rất dài.
Mình thương tuổi thơ của Hoàn đã phải chịu quá nhiều khổ cực. Trước đây mình cứ nghĩ, khổ nhất là nỗi khổ mất mát người thân. Nào ngờ Hoàn không chỉ mất người thân mà còn phải một mình kiếm sống và tự lo lắng cho mình khi mà mới chỉ là một cô bé con.
Mình phục Hoàn vì Hoàn nhớ nhiều về nhưng kỷ niệm tuổi thơ khi chúng mình sống bên nhau ở Quế Lâm. Hoàn là người sống sâu sắc và rất tình cảm nên Hoàn mới nhớ nhiều như vậy.
Cuộc đời thật công bằng, bố mẹ thật linh thiêng đã bù đắp và nâng đỡ Hoàn. Và với sự phấn đấu của mình Hoàn đã trưởng thành và thành đạt. Hoàn có thể tự hào về mình và yên tâm, thanh thản để sống những ngày vui vẻ và hạnh phúc bên con cháu. Mong rằng Hoàn luôn yêu mến và dành nhiều thời gian và tình cảm cho bạn bè Hoàn nhé.
..........
Nguyen Ngoc Tram, Wednesday February 27, 2008 - 05:45pm
Đọc Entry của Tiến Hoàn tôi rất xúc động, thương bạn quá. Từ hồi ở Lư Sơn - Quế Lâm tôi đã rất quý Tiến Hoàn, rất nhớ là Hoàn đã mất cha mẹ từ nhỏ. Thế nhưng chỉ lần này tôi mới hình dung được cảnh bơ vơ, không nơi nương tựa của Hoàn; lúc phải một mình nghèo khó tự kiếm sống, khi phải trải qua nỗi sợ hãi trong vùng địch chiếm… trong tuổi thơ của Tiến Hoàn. Nhưng nếu coi vất vả tuổi thơ là đặc điểm thứ nhất, thì sống trong tình bạn là đặc điểm thứ hai của Tiến Hoàn. Hoàn có nhiều bạn, đi đâu cũng gặp bạn, và biết quý trọng tình bạn. Tôi và Tiến Hoàn trao đổi thư từ suốt những năm học phổ thông, rồi đại học. Chỉ có những ngày Kháng chiến chống Mỹ, những vất vả trong cuộc sống, công việc, gia đình… khiến chúng ta ít liên hệ với nhau mà thôi. Vậy mà một lần hai đứa gặp nhau trên đường đi sơ tán, vừa dừng xe đạp nói với nhau được hai ba câu thì Hoàn òa lên khóc: con đầu của Hoàn vừa mới mất! Nỗi đau lớn quá, thương bạn vô cùng! Rồi Hoàn cũng chịu đựng được, và rất may là những điều tốt lành dần đến với bạn. Hai cháu sau của Hoàn đều đã trưởng thành, khỏe mạnh xinh đẹp, có gia đình và nghề nghiệp tốt. Hoàn đang có cuộc sống hạnh phúc thoải mái bên con cháu, với bạn bè. Mãi mãi khỏe vui, trẻ trung yêu đời và làm nòng cốt trong Blog lớp ta nhé!

* * * *
----------------------------------------------------
Hình ảnh sẽ không sử dụng in vào sách

ĐỪNG MẢI HÁT MÀ QUÊN "ĐẠO CHÍCH NHẬP NHA"

Chuyên gia Nga cảnh báo: 
Tình hình Biển Đông rất nguy hiểm
 Mấy ngày gần đây Bộ trưởng quốc phòng TQ Thường Vạn Toàn sang thăm VN nói toàn những lời "có cánh". Trên sân khấu liên hoan hữu nghị nhân Giao lưu quốc phòng Việt-Trung, ông Nguyễn Chí Vịnh và ông Phùng Quang Thanh hát rất say sưa bài " Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông ..." (Nhiều kênh VTV có phát lại). Nhưng trên thực tế TQ nói 1 đằng, làm một nẻo, điều này đã thành truyền thống, thành đặc thù dân tộc . Dưới đây chỉ là 1 trong nhiều thí dụ, mà " bạn"  Nga ( phải chăng) muốn nhắc nhở chúng ta (?) .

VietTimes  
Tại khu vực này, Trung Quốc sẽ thiết lập các vùng phòng không, xuất hiện các vũ khí tên lửa, tạo ra những "tàu sân bay không thể chìm" có nhiệm vụ giám sát đường "lưỡi bò" - khu vực rộng 2,2 triệu km2, tương đương diện tích bề mặt 80% Biển Đông.
Trung Quốc đã lắp đặt các hệ thống radar tầm xa trên đảo Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa của VN

Đây là quan điểm nhất trí của những người tham dự hội thảo quốc tế được tổ chức tại Moscow. Hội thảo đã thảo luận những vấn đề tranh chấp lãnh thổ tại các vùng biển chưa được phân chia như Bắc Cực, Biển Caspian và Biển Đông. Trong đó, Biển Đông là chủ đề chính.
Hội thảo được tổ chức bởi Đại học tổng hợp Pháp luật Nga, khoa Nghiên cứu Hiến pháp pháp luật. "Tình hình ở Biển Đông, nhà phân tích chính trị Dmitry Mosyakov, một thành viên dự hội thảo nhận xét, đang dần dần chuyển sang cấp độ pháp lý. Việc trở nên quan trọng hơn chính là tìm kiếm phương pháp tiếp cận chung giải quyết những vấn đề đang ngày một thêm gay gắt”.
Thứ nhất, giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á tồn tại những tranh chấp lãnh thổ, trong khi đó Trung Quốc khó có thể kiểm soát hết những vùng biển bên trong đường "lưỡi bò" được tuyên bố và là những khu vực đánh bắt cá truyền thống của ngư dân Việt Nam, Malaysia, Philippines. Hiện Trung Quốc đang từng bước thực hiện tham vọng “đường lưỡi bò” ngang ngược này như ranh giới hàng hải do Bắc Kinh yêu sách chủ quyền.
Trung Quốc đang xây ba trung tâm trụ cột chính: ở phía nam và trung tâm quần đảo Trường Sa, trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tại khu vực này, Trung Quốc sẽ thiết lập các vùng phòng không, xuất hiện các vũ khí tên lửa, tạo ra những "tàu sân bay không thể chìm" có nhiệm vụ giám sát đường "lưỡi bò" - khu vực rộng 2,2 triệu km2, tương đương diện tích bề mặt 80% Biển Đông.
Việc biến đường "lưỡi bò" thành biên giới biển thực sự của Trung Quốc là một thảm họa đối với tất cả các nước Đông Nam Á ở ven biển. Trung Quốc có thể biến bất kỳ rạn san hô thành đảo, kể cả các rạn không nhô khỏi mặt nước khi thủy triều lên. Tiếp đến là việc công bố các rạn san hô là đảo, xung quanh đảo có vùng lãnh thổ 12 dặm của Trung Quốc, rồi khu vực kinh tế 200 hải lý kéo dài thêm thềm lục địa của Trung Quốc, bất chấp luật pháp quốc tế.
Các đối thủ của Trung Quốc có lập trường không có gì thay đổi: Rạn san hô vẫn chỉ là bãi đá ngầm không đem lại quyền sở hữu lãnh thổ, rằng Biển Đông là diện tích mặt nước tự do hàng hải của tất cả các quốc gia. Khu trục hạm Mỹ đã ghé khu vực, không quân Mỹ thực hiện các chuyến bay tới đây, Washington điều cụm tàu sân bay chiến đấu tới Biển Đông. Còn Trung Quốc đe dọa sẵn sàng đánh đắm bất kỳ ai đi vào đường "lưỡi bò".
Các thành viên tham gia hội thảo ở Moscow đã thống nhất ý kiến: Cần thiết đóng băng tất cả các dự án xây dựng trên Biển Đông, tăng tốc đề thảo Bộ luật ứng xử tại vùng biển này và thành lập một ủy ban quốc tế với nhiệm vụ phi quân sự hóa Biển Đông. Đó là lý do vì sao công việc hàng đầu là làm rõ các vấn đề pháp lý, đạt được sự đồng thuận pháp lý.
Theo Sputnik

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

LỚP NGA NGỮ BK HỌP MẶT ( THÔNG TIN CỦA CỤ ĐINH QUANG GIANG )

        Năm nào cũng vậy ,vào một ngày đầu Xuân các cụ lớp Nga văn Bắc kinh Nga ngữ Học viện tốt nghiệp năm 1959 lại gặp mặt ở nhà một cụ đã đăng cai “Hội nghị”.
     Năm nay lớp tổ chức tại Lâm trang của vợ chồng cụ Quyết Tâm bên bờ hồ Đại Lải tỉnh Vĩnh Phúc. Khu nhà ở làm  bằng gỗ  kiểu cổ nằm giữa trang trại rộng tới 4 ngàn mét vuông thật thoáng đãng,  nổi lên trong các vầng cây cao, xanh mát.
      Gặp nhau ai cũng nở nụ cười với những vòng tay ôm chặt hai vai và những cái bắt tay thân thiết. Đặc biệt là cụ Xuân Tế nhiều năm nay mới lại có  dịp từ xứ Nghệ ra họp lớp, làm cho mọi người thêm vui mừng phấn khởi, nhất là khi thấy cụ còn phương phi, giọng nói còn mạnh mẽ và bước đi chưa hề có dấu hiệu  thoát vị tý nào.
     9,30 giờ cuộc họp bắt đầu. Cụ Thúy Bình, Trưởng  BLL đọc danh sách 18 cụ đã vĩnh viễn đi xa và mọi người lặng đi phút mạc niệm.
     " Sinh-Lão-Bệnh-Tử" là quy luật của vòng đời . Năm nay nhiều cụ tuổi đã cao, sức khỏe giảm, lại ở quá xa như TP Hồ Chí Minh  không tới dự được, nên cuộc họp ít hơn mọi năm. Song buổi  họp mặt vẫn rất vui và sôi nổi. Các bài hát Nga Xô viết : Chiều Matxcơva, Cây thùy dương, Đôi bờ , Triệu bông hồng từ đĩa DVD của cụ Giang làm, rôn rã vang lên trên màn hình vô tuyến càng gợi cho mọi người nỗi nhớ  thời trẻ trung, khi còn học ở trường.
      Cụ Đỗ Long đọc bài viết của  mình về những chặng đường của lớp Nga văn, mà cụ mới gửi đăng Blog của khối 5 lusonquelam.blogspot và để đưa vào cuốn kỷ yếu Ngược dòng ký ức của khối . 

Cụ Phạm Kiên có  lời bình luận và mọi người cùng nhau ôn lại những kỷ niệm quá khứ đẹp đẽ thời thơ ấu đã hơn 60 năm trôi qua mà vẫn tươi mới thật khó quên . Cuộc hop kết thúc lúc 12 giờ và mọi người cùng nâng cốc , dùng bữa cơm thân  mật do cụ Quyết Tâm đài thọ. Rất tiếc là cụ Dễ phu quân của cụ Quyết Tâm- con dê của lớp đang có công việc ở TP mang tên Bác,  không về dự được. 
       Dịp kỷ niệm 50 năm tốt nghiệp, lớp Nga văn cũng họp tại đây vào ngày 21 tháng 10 năm 2009, nhưng ngồi xếp chân vòng tròn  trên sập và trên sàn, ở trong ngôi nhà gỗ chính có gian thờ phụng . Trong lúc ăn , cụ Giang đọc lại bài” 50 năm Nga ngữ một chặng đường” đã đăng trên Blog của lớp ngày 22/10/2009 được mọi người vỗ tay  nhiệt liệt.
       Sau bữa tiệc , 2 giờ 30 mọi người ra trước cửa nhà lớn, trước cây mai vàng rực cánh hoa muộn  nở, để chụp chung pô ảnh kỷ niệm. Ảnh gồm 16 cụ , nhưng lại có thêm  chú  béc vàng bảo vệ khu nhà rừng rộng lớn cũng bùi ngùi  lưu luyến khách trước lúc ra về.
 Tác giả ( bên phải) và cụ Xuân Tế từ Nghệ An ra dự họp mặt
      Xe ô tô 28 chỗ ngồi  đưa đoàn đi thăm vùng trồng cây gây rừng với những khu rừng thông  rậm , xanh, cao vút, rồi về Hà nội. Còn cụ Giang vẫn chiếc xe máy đến khu du lịch Đại Lải ngắm một  lúc con tàu chở khách đang đi ra đảo và giao du chút ít , rồi phóng thẳng một mạch về đất Tổ - nơi các Vua Hùng tọa lạc.   
       
        Kèm theo là mấy tấm ảnh tôi chụp, để các cụ khối 5 Quế lâm –nơi chia tay với các cụ để đi học Nga văn, cùng chia vui với chúng tôi.
                                                           
                                                              Việt trì  Ngày 23/3/2016
                                                                     Bài và ảnh : Đinh Quang Giang
---------------------------------------------